Có phải bạn đang tìm kiếm chủ đề về => Phân tích đất nước đoạn 1 của Nguyễn Khoa Điềm để càng hiểu và yêu đất nước mình hơn phải không? Nếu đúng như vậy . Thứ Tư, Tháng Mười 19 2022 . Breaking News.
Đề bài:Phan tich doan 2 bai tho Hai chu nuoc nha. Anh/chị hãy phân tích đoạn 2 bài thơ " Hai chữ nước nhà" để thấy được tình yêu quê hương, đất nước trước cảnh lầm than của Nguyễn Phi Khanh. Mở bài: Phân tích đoạn 2 bài thơ "Hai chữ nước nhà"
a. Mở bài: Nêu được sự việc có thật liên quan đến nhân vật/sự kiện lịch sự mà văn bản sẽ thuật lại; Nêu lí do hay hoàn cảnh người viết thu thập tư liệu liên quan; b. Thân bài: - Gợi lại bối cảnh, câu chuyện, dấu tích liên quan đến nhân vật/ sự kiện:
Nguyễn Ngọc Anh. Phân tích bài thơ Đất Nước đoạn 2. Nếu như mở đầu Đất Nước, Nguyễn Khoa Điềm khơi nguồn cho tâm hồn người đọc tìm về cội nguồn, để lý giải sự hình thành Đất Nước thì đến đoạn thơ thứ 2, đôi mắt thơ của Nguyễn Khoa Điềm đặt hình ảnh Đất Nước trong chiều rộng của không gian địa lý, trong chiều dài của thời gian lịch sử và trong mối
A. Mục tiêu bài học. 1. Kiến thức. Qua bài học giúp HS: Cảm nhận được những suy tư sâu sắc của nhà thơ về đất nước và trách nhiệm của mỗi người đối với quê hương, xứ sở. Hiểu được sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất chính luận và trữ tình, sự vận dụng
Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, vị trí đoạn trích trong phân tích bài thơ đất nước của nguyễn khoa điềm đoạn 2. Nguyễn Khoa Điềm là một trong những cây bút trẻ tài hoa thời kháng chiến chống Mỹ. Lời thơ của ông giàu hình ảnh cảm xúc, gợi nhiều liên tưởng phong phú và thú vị. Bài thơ "Đất nước" được trích từ trường ca "Mặt đường khát vọng".
43SZ9. Mở bài Giới thiệu tác giả, tác phẩm Đất nước là đề tài mang đến nhiều cảm hứng cho người thi nhân, đặc biệt là giai đoạn nền độc lập dân tộc bị đe dọa bởi giặc ngoại xâm. Phân tích bài thơ đất nước của nguyễn khoa điềm đoạn 2 ta thấy được nhận thức sâu sắc của thế hệ thanh niên Việt Nam thời kỳ chống Mỹ. Nhận thức này chính là điểm tựa để mỗi người suy ngẫm về tình yêu, đất nước, trách nhiệm với đất trích “Đất nước” nằm ở chương V của trường ca “Mặt đường khát vọng” và được xem là phần hay nhất của trường ca Thân bài Phân tích bài thơ đất nước của nguyễn khoa điềm đoạn 2 theo luận điểm Luận điểm 1 Thời điểm đất nước ra đời Đối với hình ảnh đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, Trần Đình Sử cho rằng đó là “đất nước của nhân dân”. Và ông gọi bài thơ “Đất nước” là bài thơ chính luận, vì bài thơ bàn về đất nước và nhân đoạn trích “Đất nước”, Nguyễn Khoa Điềm đưa ra những khái niệm về đất nước vừa quen vừa lạ. Nhưng ông không chỉ lí giải đất nước, nhân dân là gì mà còn gửi gắm tình cảm sâu nặng dành cho đất nước, đối với nhân dân. Phân tích bài thơ đất nước của nguyễn khoa điềm đoạn 2 ta thấy, việc kết hợp giữa hai phương diện này đã mang đến cho bài thơ chất trữ tình và chất chính luận thấm nhuần cùng nhau. Mỗi khổ thơ nhỏ trong đoạn trích đều hướng đến lí giải, trả lời những câu hỏi về đất nước, mà những câu hỏi đều có liên kết với nhau chặt chẽ, hợp đầu với câu hỏi về thời gian, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm muốn đưa độc giả trở về quá khứ, để tìm hiểu về lịch sử của đất nước, về thời điểm mà đất nước ra đờiKhi ta lớn lên Đất Nước đã có rồiĐất Nước có trong những cái “ngày xửa, ngày xưa…” mẹ thường hay kểĐất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ănĐất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặcTóc mẹ thì bới sau đầuCha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặnCái kèo, cái cột thành tên…Phân tích bài thơ đất nước của nguyễn khoa điềm đoạn 2 ta thấy, trong đoạn thơ này ta thấy xuất hiện nhiều trạng từ chỉ thời gian, “ngày xửa, ngày xưa”, “bây giờ”, “từ ngày đó”. Và gắn liền với những mốc thời gian này là “miếng trầu bà ăn”. Nghĩa là đất nước đã có từ lâu đời, từ xa xưa, trong phong tục tập quán văn hóa dân gian. Và gần hơn, đất nước có trong tình yêu của mỗi gia đình nhỏ, trong cả từng hạt khi lí giải cho các câu hỏi để xác định tình yêu và đất nước, Nguyễn Khoa Điềm đặt câu hỏi quen thuộc về một thứ gắn liền với đời sống con người, “Đất là gì?” Ta biết đây không phải là một câu hỏi mới mẻ và cũng không phải Nguyễn Khoa Điềm là người đầu tiên đưa ra. Mà trong văn học dân gian, trong các địa hạt lịch sử, địa lý, dân tộc học, “đất” đã được định nghĩa. Như trong văn học từ xưa người ta cũng đã đi tùm câu trả lời cho câu hỏi “đất nước là gì?”. Phân tích bài thơ đất nước của nguyễn khoa điềm đoạn 2 , ta càng thấy rõ những nhận định của Nguyễn Khoa Điềm về “đất”Đất là nơi anh đến trườngNước là nơi em tắmĐất Nước là nơi ta hò hẹnĐất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ những câu thơ trên ta thấy, đất nước hiện lên thật giản dị mà cũng độc đáo biết bao. Đất nước được định nghĩa cũng thật trữ tình và lôi cuốn người đọc. Nhưng ở đây, đất nước không chỉ được viết cho những người yêu nhau, mà nhà thơ viết cho tất cả mọi người. Đất nước được Nguyễn Khoa Điềm kiến giải rất dài, rất cụ thể nhưng cũng rất đơn giản, có lý và vô cùng thuyết phục. Những kiến giải này được nhà thơ dựa trên hai trục không gian và thời gian. Đó là “thời gian đằng đẵng” và “không gian mênh mông”. Và giữa không gian bao la, thời gian dài rộng ấy, đất nước hiện ra thật to lớn, hùng vĩ qua hình ảnh “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc – con cá ngư ông móng nước biển khơi”.Phân tích bài thơ đất nước của nguyễn khoa điềm đoạn 2 ta thấy không gian đất nước hiện lên thật hùng vĩ mà rất trữ tình. Và ở những câu thơ tiếp theo, Nguyễn Khoa Điềm cắt nghĩa định nghĩa về đất nước từ góc độ những truyền thuyết thời xa xưaĐất là nơi Chim vềNước là nơi Rồng câu thơ dựa trên truyền thuyết về Lạc Long Quân và Âu Cơ, người cha người mẹ của đồng bào ta. Lạc Long Quân và Âu Cơ đẻ ra đồng bào ta trong bọc trăm trứng, nghĩa là đất nước tạo ra tất cả mọi người, là tất cả mọi người, tất cả thế hệ, là tất cả những người đang sống và cả những người đã khuất. Nhưng dù bạn là ai, sinh ra ở đâu thì tất cả chúng ta đều cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ. Đất nước luôn ở trong anh, trong em và trong tất cả chúng ta, trong những người đã khuất, trong những người hôm nay và những thế hệ mai sau. Tất cả tạo nên một đất nước vừa rộng lớn thiêng liêng, vừa gần gũi quen thuộc và bao giờ cũng tròn vẹn nghĩa câu thơ tiếp theo, giọng thơ của Nguyễn Khoa Điệm vẫn thật khúc chiết nhưng cũng chứa chan bao tình cảm đằm ơi đất nước là máu xương của mìnhPhải biết gắn bó san sẻPhải biết hóa thân cho dáng hình xứ sởLàm nên đất nước muôn đời…Những câu thơ trên không khỏi khiến ta nghĩ về câu thơ của Chế Lan Viên viết về đất nước. Phân tích bài thơ đất nước của nguyễn khoa điềm đoạn 2 ở những câu trơ trên ta thấy, nếu với Nguyễn Khoa Điềm, “đất nước là máu xương của mình” nên chúng ta phải biết “hóa thân cho dáng hình xứ sở”; thì Chế Lan Viên viếtÔi Tổ quốc ta yêu như máu thịtChất chính luận trong bài thơ thuyết phục người đọc tin, còn chất trữ tình lại khiến người đọc xúc động và nảy nở yêu thương. Và chính sự hòa quyện của chất chính luận và trữ tình trong thơ Nguyễn Khoa Điềm trong cách nói về đất nước đã tạo nên sức hấp dẫn cho bài thơ. Và những hình ảnh, chi tiết cụ thể trong bài thơ được nâng lên tầm khái quát. Luận điểm 2 Tư tưởng đất nước nhân dân qua phân tích bài thơ đất nước của nguyễn khoa điềm đoạn 2 Trong phần thứ hai của bài thơ, Nguyễn Khoa Điềm đưa ra một phát hiện độc đáo khi nói về những yếu tố góp thành đất người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng PhuCặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống MáiGót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lạiChín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng VươngNhững con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳmNgười học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non NghiênCon cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnhNhững người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà ĐiểmVà ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãiChẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông chaỞ đây ta thấy, đất nước hiện lên với nhiều hình ảnh cụ thể. Đó là một đất nước bao la, hùng vĩ, một đất nước với nền văn hiền nghìn năm lịch sử. Nhưng đất nước ấy cũng là những điều gần gũi, quen thuộc với tất cả mọi người. Phân tích bài thơ đất nước của nguyễn khoa điềm đoạn 2 đến đây ta thấy, đất nước không phải của riêng ai, không phải những người anh hùng mới có công làm nên đất nước, mà đất nước còn là một phần của những con người bình thường, những con người vô danh lặng lẽ. Tất cả họ đều góp cho đất nước một dáng người yêu nhau thì góp cho đất nước “núi Bút, non Nghiên”. Và ngay cả những con gà, con cóc cũng góp phần góp cho đất nước vịnh Hạ Long huyền thoại. Còn những người dân bình thường, nào “ông Đốc”, “bà Đen”, “bà Điểm” cũng đều làm nên những địa danh nổi tiếng cho đất từ những phát hiện độc đáo này, Nguyễn Khoa Điềm đã khái quát vê đất nước thật sâu sắc và đầy xúc độngÔi đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấyNhững cuộc đời đã hóa núi sông taNhưng đây không phải là kết thúc bài thơ, cũng không phải kết thúc cho những suy ngẫm, cảm xúc về đất nước. Bởi dường như, đất nước hiện diện ở bất cứ đâu, ở bất kì điều gì ta nói đến, từ những người con trai ra trận đến những người con gái ở nhà nuôi dạy con cái. Mà nhiều người trong số họ đã trở thành anh đã sống và chếtGiản dị và bình tâmKhông ai nhớ mặt đặt tênNhưng họ đã làm ra Đất NướcTuy nhiên đất nước là tất cả mọi người, đất nước không chỉ được tạo nên bởi những lớp người “đã sống và chết”. Mà ở đây tác giả còn thể hiện lòng biết ơn đối với những người vô danh, những người “không ai nhớ mặt đặt tên – nhưng họ đã làm ra Đất Nước”. Họ đã sống giản dị và làm việc thầm lặng nhưng lại mang đến ý nghĩa lớn lao. Bởi chính họ đã truyền lại điều quý giá biết bao, từ hạt lúa, ngọn lửa đến tiếng nói cho những suy ngẫm này, Nguyễn Khoa Điềm đã kết luận rằng Đất Nước này là đất nước của tất cả mọi người, đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại, đất nước của cả những anh hùng và cả những người vô danh. Tất cả họ dù để lại một dòng tên trong lịch sử, một tượng đài hay một tấm bia lưu danh hay không đều mang lại cho đất nước một cuộc đời bình dị mà ý nghĩa lớn lao, làm nên một đất nước trường tồn và hùng vĩ, rộng lớn cả về thời gian và không gian. Kết luận khi phân tích bài thơ đất nước của nguyễn khoa điềm đoạn 2 Đoạn trích “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm đã cho ta thấy một đất nước rộng lớn, đa chiều được thể hiện bằng vốn hiểu biết phóng phú của nhà thơ. Đồng thời, phân tích bài thơ đất nước của nguyễn khoa điềm đoạn 2 ta thấy tác phẩm này là đúc kết những trải nghiệm của nhà thơ trong khoảng thời gian ông bị tù đày trong nhà tù của quân Mỹ ngụy và thời điểm tham gia phong trào sinh viên ở tất cả lòng chân thành và suy ngẫm sâu sắc, Nguyễn Khoa Điềm gửi gắm tới bạn đọc những cảm nghĩ riêng mà độc đáo, gần gũi về đất nước. Đặc biệt, đây không phải chỉ là cảm nhận của riêng nhà thơ mà còn là tiếng nói đại diện cho cả một thế hệ thanh niên trong kháng chiến chống Mỹ khi nói về đất nước. Về mặt nghệ thuật, “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm là sự kết hợp hài hòa của lối viết chính luận và chất trữ trình trong thơ.
Tác giả và tác phẩm? Dàn ý phân tích đoạn 2? Bài mẫu 1 Phân tích Đoạn 2 bài thơ Đất nước? Bài mẫu 2 Phân tích Đoạn 2 bài thơ Đất nước? Bài mẫu 3 Phân tích Đoạn 2 bài thơ Đất nước?Chương trình lớp 12 rất nặng với nhiều kiến thức phức tạp. Ngữ văn là một trong những môn bắt buộc trong kì thi THPTQG, tuy nhiên khối lượng kiến thức rất nhiều. Vì vậy, bài viết dưới đây sẽ giúp các em ôn tập thêm về bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm, rất mong bài viết sẽ hữu ích đối với các em. Mục lục bài viết 1 1. Tác giả và tác phẩm 2 2. Dàn ý phân tích đoạn 2 3 3. Bài mẫu 1 Phân tích Đoạn 2 bài thơ Đất nước 4 4. Bài mẫu 2 Phân tích Đoạn 2 bài thơ Đất nước 5 5. Bài mẫu 3 Phân tích Đoạn 2 bài thơ Đất nước 1. Tác giả và tác phẩm Nguyễn Khoa Điềm sinh ngày 15 tháng 4 năm 1943, tại làng Ưu Điềm, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế; Ông sinh ra tại thôn An Cựu, xã Thủy An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế, trong một gia đình trí thức, giàu truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng. Nguyễn Khoa Điềm học tập và trưởng thành ở miền Bắc, chiến đấu và học tập ở miền Nam. Thơ của ông mang màu sắc chính luận sâu sắc, cảm xúc suy tư dồn nét, với một số tác phẩm tiêu biểu như sau – Đất ngoại ô thơ, 1973; – Cửa thép ký, 1972; – Mặt đường khát vọng trường ca, 1974; – Ngôi nhà có ngọn lửa ấm thơ, 1986; – Thơ Nguyễn Khoa Điềm thơ, 1990; Bài thơ Đất nước là một trong những bài thơ tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Khoa Điềm, bài thơ được sáng tác năm 1971 ở chiến khu Bình Trị Thiên. Bài thơ như dấu mốc đánh dấu sự thức tỉnh của nhân dân vùng tạm chiếm, đồng thời là lời ca về tinh thần kháng chiến của nhân dân ta. Mở bài Giới thiệu đôi nét về tác giả và tác phẩm. Thân bài Ví trí đoạn trích Sau khi cảm nhận đất nước qua nhiều phương diện của lích sử, Nguyễn Khoa Điềm đã đi đến câu trả lời ngắn gọn và làm thức tỉnh tinh thần yêu nước trong nhân dân ta “Đất nước trong nhân dân là gì?” – Vạn vật của đất nước không chỉ do tự nhiên tạo ra mà những phẩm chất tốt đẹp là một phần máu thịt của con người. – Tình yêu thủy chung son sắc mà ta có “hòn Trống” “hòn Mái” – Nhờ truyền thống hiếu học mà ta có “núi Bút” và “núi nghiên” – Nhờ có tình yêu quê hương đất nước, tinh thần bất khuất, dũng cảm mà chúng ta mới có những di tích lịch sử về quá trình dựng nước và giữ nước. – Con người làm nên 4000 năm lịch sử + Họ là những người dân là những người con trai con gái họ có tình yêu quê hương đất nước + Tác giả nhấn mạnh sự hi sinh của những người vô danh cống hiến cả tuổi thanh xuân để bảo vệ đất nước để bảo vệ thế hệ mai sau. + Nhân dân tạo ra những giá trị vật chất giá trị tinh thần văn hóa; “Truyền lửa”, “Truyền giọng nói”…. + Đoạn trích ” Đất nước” là một cái nhìn mới mẻ về bình diện lịch sử, văn hóa , địa lí dựa trên những cơ sở cốt lõi – Sử dụng sáng tạo chất liệu dân gian ngôn ngữ giàu chất triết lí Kết bài Đánh giá lại giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật. 3. Bài mẫu 1 Phân tích Đoạn 2 bài thơ Đất nước Nếu như ở đầu Đất Nước, Nguyễn Khoa Điềm khơi gợi tâm hồn người đọc tìm về cội nguồn, cắt nghĩa sự hình thành của Đất Nước thì ở khổ thơ thứ hai, con mắt thơ Nguyễn Khoa Điềm đặt hình ảnh Đất Nước trong chiều rộng địa lý. không gian, chiều dài thời gian lịch sử, và trong các mối quan hệ mật thiết của mỗi cá nhân. “Đất là nơi em đi học Nước là nơi tôi tắm Đất nước là nơi chúng ta gặp nhau Đất nước là nơi tôi đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ Mảnh đất nơi “phượng hoàng bay về núi bạc” Mặt nước là nơi “móng vuốt của ngư dân nước biển” Nguyễn Khoa Điềm tiếp tục thể hiện sự sáng tạo, linh hoạt trong cách dùng từ, đặt câu khi ở đây, nhà thơ trích ra hai chữ Đất Nước để phân tích tâm hồn ẩn sâu bên trong nó. Đất là nơi em đi học, nước là nơi em tắm, nghĩa là hình ảnh đất nước hiện lên vô cùng gần gũi, gắn bó mật thiết với đời sống con người. Trước đây, khi viết về đất nước, các nhà thơ thường gọi nó, tô vẽ nó bằng những hình ảnh lung linh hùng vĩ, thì nay Nguyễn Khoa Điềm gợi ra đất nước còn là không gian thân thương, nơi gắn bó tình cảm, nơi khơi nguồn và khơi nguồn cảm hứng. là điểm tựa cho hạnh phúc lứa đôi. Là nơi gửi gắm nỗi nhớ thầm kín của người con gái nên nó vừa tuyệt vời vừa là mảnh ký ức gợi nhớ cho tâm hồn bất cứ ai. Ở hai câu thơ tiếp theo, Đất nước tái hiện trong ca dao, tục ngữ, để thấy rằng Đất nước không chỉ đánh thức kí ức tuổi thơ mà còn đánh thức kí ức văn hoá cộng đồng, nét đẹp của con người. truyền thống cộng đồng. “Thời gian đằng đẵng Không gian mênh mông Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ Đất là nơi Chim về Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng” Đất nước là sự rèn giũa, kết hợp giữa dòng chảy vô tận của thời gian bao la nhưng thời gian ở đây không phải là thời gian vô tri vô giác mà là thời gian của lịch sử văn hóa. Nhắc lại truyền thuyết Lạc Long Quân Âu Cơ là gợi lại những ký ức lịch sử, văn hóa của cộng đồng, đồng thời cũng là điểm tựa để gợi nhớ những nét đẹp văn hóa dân gian của dân tộc. Đất Nước trường tồn, Đất Nước vẫn bất tử giữa không gian bao la, không gian hùng vĩ. Nhìn đất nước theo cả chiều dài thời gian, chiều rộng không gian, đất nước còn là sợi dây kết nối những thế hệ đã qua và thế hệ sau. “Những ai đã khuất Những ai bây giờ Yêu nhau và sinh con đẻ cái Gánh vác phần người đi trước để lại Dặn dò con cháu chuyện mai sau Hằng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ”Để làm nên bề dày văn hóa, lịch sử của Đất nước, chắc chắn đó là sự tích tụ, tiếp nối của biết bao thế hệ con cháu đã ngã xuống, hy sinh cho nền độc lập dân tộc. Đất nước sáng mãi trong lòng mỗi người bởi sự hy sinh cao cả, vĩ đại, bởi tinh thần dân tộc như ngọn lửa truyền qua bao thế hệ. Và vì thế, đồng bào các dân tộc luôn tự nhắc mình đạo lý uống nước nhớ nguồn truyền thống Hằng năm nhớ ngày giỗ Tổ. Tiếp tục mạch lập luận, nhà thơ nhìn Đất Nước trong cả mối quan hệ của mỗi cá nhân “Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước Khi hai đứa cầm tay Đất Nước trong chúng mình hài hòa nồng thắm Khi chúng ta cầm tay mọi người Đất nước vẹn tròn, to lớn Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang đất nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng”. Trong anh và em, trong mỗi chúng ta đều thấm đượm hồn quê. Đất nước vì thế là sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng, giữa mỗi cá nhân và cả cộng đồng, giữa cái nhỏ và cái lớn, giữa cái mộc mạc gần gũi và cái xa vời vợi. Từ đó, bắc một nhịp cầu đến trái tim người đọc, rằng Đất nước ở trong ta, không ở ngoài ta, và do đó Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó san sẻ Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời…” Viết về đất nước, đó là nguồn cảm hứng bất tận và ở mỗi giai đoạn lịch sử, các nhà thơ, nhà văn lại gửi gắm vào đó linh hồn của thời đại mình. Ở đây, Nguyễn Khoa Điềm viết Đất nước với mong muốn thức tỉnh những người chiến sĩ tham gia kháng chiến kiến quốc, soi sáng, hướng dẫn họ nhưng giọng thơ của ông không hề giáo điều. đong đầy, nghẹn ngào yêu thương, như lời nhắn nhủ chân thành, như lời chuyển giao thế hệ. Nó khiến người đọc đồng cảm hơn, cảm nhận rõ hơn về sự hòa hợp, gắn kết của đất nước trong tâm hồn mỗi người. Đất nước là máu xương của mỗi người, bởi nó được xây dựng và gìn giữ bằng chính cuộc đời và lòng yêu nước thiêng liêng của biết bao thế hệ đã ngã xuống và hy sinh. Và cũng bởi Đất nước cho ta máu thịt, cho ta cách sống, cách nghĩ, cho ta điểm tựa về truyền thống văn hóa, lịch sử – những yếu tố ấy đã hun đúc nên vẻ đẹp tâm hồn của chính ta. của người Việt Nam, trong đó có bạn và tôi, mỗi chúng ta. Nếu cá nhân nào tồn tại đơn độc, không có cộng đồng để bấu víu, làm điểm tựa cho sự phát triển và nuôi dưỡng văn hóa tinh thần, thì chẳng khác nào chúng ta trở nên vô minh. bạn thua? Đó là ý nghĩa sâu xa nhất mà Đất Nước có tác động đến mỗi chúng ta. Vì vậy, mỗi chúng ta đều có trách nhiệm hóa thân thành hình đất nước, phải dấn thân hy sinh, vì đó cũng chính là sự sáng tạo tinh thần của mỗi chúng ta. Khổ thơ thứ hai thể hiện sự chiêm nghiệm sâu sắc của Nguyễn Khoa Điềm về hình ảnh Đất Nước. Vì vậy, nó không chỉ tạo được sự đồng cảm trong tâm hồn người đọc mà còn làm tăng sức nặng của những triết lí, tư tưởng. Nhưng cái tài tình của Nguyễn Khoa Điềm là diễn đạt nó bằng cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu sắc. 4. Bài mẫu 2 Phân tích Đoạn 2 bài thơ Đất nước Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ trẻ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, sáng tác của ông nổi bật với phong cách thơ trữ tình, cảm xúc thiết tha, suy tư sâu sắc. Sử thi “Mặt đường khát vọng” tiêu biểu cho phong cách sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm, tác phẩm được sáng tác năm 1971 tại chiến khu Trị Thiên nhằm mục đích giáo dục thanh niên thành thị vùng tạm chiến miền Nam về sứ mệnh của mình. với cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đoạn “Đất nước” nằm trong chương thứ năm của Bài ca dài và là một trong những đoạn hay nhất của tác phẩm viết về đất nước. Mở đầu đoạn trích, tác giả có cảm nhận mới về quá trình hình thành đất nước. Đất nước được hình thành một cách bình dị, gần gũi và gắn bó với cuộc sống hàng ngày, đó là những câu chuyện cổ tích, hay những câu ca dao, những phong tục tập quán của con người và đất nước. Ở khổ thơ thứ hai, tác giả Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện một cách cảm nhận mới nhưng cũng rất đỗi bình dị về hai tiếng đất nước. Đất nước là gì? Đất nước là những thứ gần gũi với ta, là con đường ta đi học, là lớp học ta ngồi, là bến đò em tắm, là cây đa, là giếng nước, là sân đình, là không gian riêng của những đôi lứa yêu nhau. Đất nước còn là sự hòa quyện của cá nhân với cá nhân với cộng đồng, đất nước là sự hòa quyện của tình yêu đôi lứa và tình yêu đất nước. Đất nước là những truyền thống cao đẹp gần gũi với mỗi chúng ta, đất nước là máu, là xương, là máu, là thân thể và ruột thịt, là thứ mà chúng ta bảo vệ cho dù phải hy sinh tất cả. Theo tác giả Nguyễn Khoa Điềm, nhân dân là chủ của nước, là người canh giữ, bảo vệ và xây dựng đất nước. Để làm rõ tư tưởng đó, tác giả đã xem xét kỹ các tầng địa lý, lịch sử, văn hóa của đất nước để chứng minh nhân dân là chủ thể sáng tạo ra đất nước trong không gian địa lý. Nguyễn Khoa Điềm đã nhìn đất nước qua những danh lam thắng cảnh trải dài trên đất nước. Tất cả những địa danh đó đều gắn liền với những di tích lịch sử, một sự thật mà lịch sử đã chứng kiến. Nói cách khác, chính những truyền thuyết, sự tích, sự kiện lịch sử về nội dung đã biến địa danh ấy thành danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa được mọi người công nhận và biết đến. , là người vợ nhớ chồng lên núi “Vọng Phu”, là đôi trai gái yêu nhau ở hòn Trống Mái, là những sinh viên nghèo tạo nên núi Bút Nghiên hay Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Đen… Diễm đã góp phần tạo nên những địa danh mang tên mình. Trong cảm nhận của nhà thơ, mỗi danh lam thắng cảnh không chỉ là một nét vẽ tô điểm cho đất nước hình chữ S của chúng ta mà hàng nghìn năm qua còn ẩn chứa sự chung thủy, tình vợ chồng, nghĩa tình. truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của đất nước, lòng biết ơn cội nguồn, biết ơn người đi trước, người có công với nước, tinh thần hiếu học, ý chí vượt khó khăn gian khổ, tinh thần xả thân vì cộng đồng. Khai thác đất nước về mặt địa lý, tác giả không chỉ cảm nhận đất nước trù phú mà còn cảm nhận nhiều vùng đất, nhiều địa danh mang những tên gọi dân dã. Đặc biệt, nhà thơ không chỉ nhìn đất nước từ bên ngoài mà còn nhìn sâu vào bên trong để phát hiện ra chính con người tạo nên những địa danh đó để từ đó tác giả đi đến những kết luận chung. . Những danh lam thắng cảnh nổi tiếng trong cả nước đều do nhân dân tạo nên, tất cả đều là kết tinh công sức của những con người bình thường vô danh. Nói cách khác, người dân là người tạo ra đất nước từ mọi khía cạnh địa lý. Bằng nghệ thuật kết cấu quy nạp liệt kê động từ “góp công” lặp đi lặp lại nhiều lần, nhà thơ khẳng định công lao khó nhọc để làm nên những nơi ấy. Tác giả cũng khai thác về mặt lịch sử, tác giả đã nhìn vào bốn nghìn năm lịch sử của nước ta để thấy rằng nhân dân ta là những người cần cù trong lao động, anh hùng trong chiến đấu. những mốc son oanh liệt của các anh hùng như Nguyễn Trãi, Hưng Đạo Đại Vương, Nguyễn Huệ… không chỉ là những anh hùng nổi tiếng, tác giả còn nói về sự hi sinh tinh thần của những con người vô danh mà họ có thể là những người lính họ đã hi sinh cả tuổi thanh xuân để bảo vệ Tổ quốc. còn lại nơi chiến trường, họ là những người không tên không tuổi, nhưng họ đã cống hiến hết mình cho đất nước, hay là những con người ngày đêm miệt mài. Họ làm nên đất nước bằng cách truyền lại cho chúng ta những giá trị vật chất và tinh thần bằng hạt gạo, tiếng nói, ngọn lửa và bản sắc văn hóa dân tộc. Họ là những người có công đánh đuổi giặc ngoại xâm tạo dựng chủ quyền để làm nền móng cho các thế hệ mai sau và các thế hệ mai sau thay phiên nhau giữ gìn và phát triển đất nước. Nhà thơ khẳng định vai trò của nhân dân trong việc giữ gìn truyền thống văn hóa để làm nên đất nước tươi đẹp. Giọng điệu mềm mại, uyển chuyển, có lúc thủ thỉ, có lúc trang nghiêm, sử dụng tốt chất liệu văn hóa, dân gian, có sự đan xen giữa chất chính luận và chất trữ tình, đi sâu vào lòng người đọc, phần hai của đoạn văn. Trích dẫn Đất nước không chỉ nêu định nghĩa về đất nước mà còn thể hiện quan niệm của tác giả về tư tưởng nhân dân. 5. Bài mẫu 3 Phân tích Đoạn 2 bài thơ Đất nước Đất nước là đề tài muôn thuở trong thơ ca, nghệ thuật, là điểm hẹn tâm hồn của biết bao văn nghệ sĩ. Trong những năm tháng chiến tranh ấy, tình yêu đất nước lại càng sáng ngời trong trái tim của mỗi người con đất Việt. Đoạn trích “Đất nước” của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm được sáng tác trong những bối cảnh đó. Nói đến văn học thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chúng ta biết đến các nhà thơ thời kỳ này như Xuân Quỳnh, Trần Đăng Khoa, Phạm Tiến Duật… đã viết về tinh thần của cả một thế hệ người “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước mà lòng phơi phới dậy tương lai.” Một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam lúc bấy giờ phải kể đến một nhà thơ đã trưởng thành rất nhiều trong chiến thắng lâu dài nhưng chắc chắn của dân tộc – đó là Nguyễn Khoa Điềm. Khi nhắc đến tác giả Nguyễn Khoa Điềm, trong tiềm thức của mỗi người yêu văn chương đều không thể quên phong cách thơ của ông, đó là phong cách thơ mà trữ tình chính luận. Thơ Nguyễn Khoa Điềm đã làm say lòng người đọc bởi những cảm xúc sâu lắng, giàu chất chiêm nghiệm, thể hiện tâm thế của người trí thức tích cực tham gia cuộc đấu tranh vẻ vang của nhân dân. Một trong những kiệt tác của Nguyễn Khoa Điềm phải kể đến đoạn trích “Đất Nước” nằm trong chương V của “Bài ca khát vọng” được tác giả hoàn thành ở chiến khu Trị – Thiên năm 1971, in lần đầu. 1974. Tác phẩm cũng đã xây dựng thành công tư tưởng “Đất nước là của dân” được nhân dân mãi mãi bảo vệ và giữ gìn trên cả ba phương diện chiều rộng không gian địa lý, chiều dài lịch sử và chiều sâu văn hóa. Nhà thơ như đứng trước hàng trăm câu hỏi “Đất nước này ai dựng nên, ai sẽ bảo vệ, gìn giữ nó muôn đời?” và từ đâu để trả lời những câu hỏi đó, Nguyễn Khoa Điềm ngược dòng cảm xúc của chính mình để tìm về cội nguồn đất nước. Khi nói đến vẻ đẹp của đất nước ở khía cạnh chiều sâu văn hóa, chúng ta phải hiểu văn hóa là những giá trị mà con người của một vùng đất tạo ra. Có thể ở đây có giá trị tinh thần hoặc giá trị phi vật thể. Tác giả Nguyễn Khoa Điềm nhận thấy người Việt Nam không chỉ ra đi bảo vệ bờ cõi mà còn trao truyền, đùm bọc lẫn nhau những hạt giống của dân tộc ta, những nét đẹp thấm đượm cốt cách của người Việt Nam. truyền từ đời này sang đời khác, từ trong lòng người già đến lồng ngực lớp trẻ, đó là nét đẹp đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Đất nước bắt đầu từ một cách trang trọng nhưng rất giản dị và gần gũi Cấu trúc câu “Đất nước có – bắt đầu – lớn lên” nhằm hình dung quá trình phát triển của đất nước trong trường kỳ lịch sử, đất nước như một thực thể sống có nội lực mạnh mẽ. Nghệ thuật liệt kê là thủ pháp chủ đạo quản lý toàn bài thơ đã góp phần khắc họa một đất nước bình dị, gần gũi. Đất nước gắn bó với bà, với mẹ, với cha và chính Đất nước hài hòa trong mối quan hệ gia đình, làng xóm. Đất nước là một phần máu thịt trong ký ức của mỗi người. “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể” Nhà thơ đã ngược dòng cảm xúc về ngày xưa, ngày xưa, đưa ta về với cõi thần tiên diệu kì mà từ lâu đã trở thành nguồn sống, trong tâm hồn ta, cho ta bài học cuộc sống. về nguyên tắc sống nhân ái, yêu đời, yêu thương, chăm sóc, đùm bọc lẫn nhau. “Đất nước bắt đầu bằng miếng trầu bà ăn” Đó là tục nhuộm răng, là tục nhai trầu của người già. Đồng thời đó cũng là câu ca dao tục ngữ là “miếng trầu là đầu câu chuyện”, là sự tích trầu cau, chính là vẻ đẹp của người già Việt Nam. Đất Nước là văn hóa kết tinh từ tâm hồn Việt đó là từ truyện ca dao, cổ tích đến tục ngữ đến “miếng trầu” đã là một hình tượng nghệ thuật mang tính thẩm mĩ, sau là hiện thân của tình yêu thương, lòng thủy chung của tâm hồn của dân tộc. Tiếp đến, nhà thơ như một người hướng dẫn đã đưa ta trở về làng Phù Đổng nghe lại sự tích Thánh Gióng nhổ bụi tre ngà đánh tan quân giặc Ân. “Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc” Hình ảnh quân dân ta trồng tre đánh giặc không chỉ một lần mà xuyên suốt 90 câu thơ. Hình ảnh này được lặp đi lặp lại ba lần, là biểu tượng của truyền thống yêu nước, đánh giặc giữ nước. của người dân Việt Nam. Có thể thấy, từ bao đời nay, từ truyền thuyết dân gian đến các tác phẩm thơ ca hiện đại, cây tre đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh tinh thần kiên trung đánh giặc cứu nước, đồng thời là biểu tượng cho phẩm chất của đời sống. vẻ đẹp của con người Việt Nam dũng cảm. Từ “lớn lên” được sử dụng rất chính xác, khơi dậy niềm tin và lòng tự hào dân tộc. Giọng thơ sâu lắng, trang trọng khiến cho những suy ngẫm về cội nguồn đất nước giàu chất triết lí nhưng vẫn thiết tha, trữ tình. Cách cảm nhận, lý giải về cội nguồn Đất Nước bằng những hình ảnh giản dị, địa danh quen thuộc đã khẳng định rằng Đất Nước gần gũi, thân quen, bình dị ngay trong đời sống mỗi người. Câu ca dao “Tóc mẹ vén sau đầu” nói đến phong tục làm nên nét riêng của người phụ nữ Việt Nam truyền thống. Đất nước lớn lên từ những giọt mồ hôi thấm mưa nắng. Hạt gạo, hạt gạo thấm bao mồ hôi, bao công lao nuôi dạy biết bao thế hệ. Đất nước lớn lên từ những nhọc nhằn của người cha và từ sự lo toan của người mẹ “Cha mẹ thương nhau gừng cay muối mặn”. Đó là chất liệu của ca dao, tục ngữ, là tình, là nghĩa, là lời thề vàng son sắt, và cũng là lối sống thủy chung son sắc của biết bao cặp vợ chồng Việt Nam. Câu ca “Kèo, cột thành danh” nhắc đến tục đặt tên xấu cho con dễ nuôi. Thủ pháp nghệ thuật liệt kê trong nhiều câu thơ thứ tám “Gạo của gạo phải xay, giã, sàng, sảy” thể hiện các công đoạn tạo nên hạt gạo – một đất nước có nền văn minh lúa nước, luôn bảo vệ hạt giống, cốt lõi của dân tộc Việt Nam. Những nét đẹp do cha mẹ truyền lại cho con cái tiếng nói, thầy cô truyền cho học trò chữ viết, nơi ông cha truyền lại cho con cái lối sống, nếp nghĩ qua ca dao, tục ngữ. Và chính con người cũng đã lưu truyền những nét đẹp của đất nước, những nét đẹp văn hóa của người Việt Nam. Dần dần tác giả cũng nhận ra “Đất Nước có từ ngày ấy…”, và ta không biết ngày ấy là ngày gì, chỉ biết rằng nó có từ rất xa xưa, rất xa xưa. Chỉ biết rằng đất nước đã có từ trong truyền thuyết, huyền thoại và từ thời dân tộc hình thành phong tục, nơi mà từ bao đời con người Việt Nam đã không tiếc máu xương để giữ từng tấc đất thiêng liêng và nơi mà bàn tay lao động của mình. để xây dựng đất nước. “Ngày ấy” vừa là trạng ngữ chỉ thời điểm đó trong quá khứ, vừa là đại từ thay thế. Vậy là Đất Nước đã có từ khi mẹ tôi thường kể cho tôi nghe những câu chuyện cổ tích, khi dân ta biết trồng tre đánh giặc, trồng lúa, ăn trầu, búi tóc, sống nghĩa tình, thủy chung. Như trên đã nói, tác giả Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ trưởng thành từ quân đội, một trong những nhà thơ đã xẻ dọc theo chiều dài của nhiều mảnh đất hình tia chớp. Trước hết, khi nói về chiều rộng của không gian và địa lý, chúng ta phải hiểu rằng địa lý là toàn bộ những yếu tố tự nhiên trên một đơn vị diện tích lãnh thổ của đất nước. Là nhà thơ đã đi suốt chiều dài mảnh đất hình chữ S, ông am hiểu từng danh lam, thắng cảnh trên lãnh thổ Việt Nam. “Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước Những núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm” Ấn tượng nơi ban đầu của chúng ta khi đọc tám câu thơ là ta như bị chìm ngập trong không gian cổ tích diệu kỳ và thần thoại. Cả đoạn thơ là kho truyện cổ, cùng những các sự tích như “núi vọng phu”, hay là “hòn Trống Mái”. Một lần nữa tác giả cũng như một người hướng dẫn viên du lịch đưa ta trở về làng Phù Đổng nghe sự tích nơi thánh Gióng nhổ bụi tre ngà đánh tan giặc Ân. Đó cũng là truyền thống yêu nước của nhân dân ta. Mỗi một dòng thơ tùy độ dài ngắn khác nhau nhưng đều có chung một kết cấu. Mỗi dòng thơ cũng đều chia ra hai phần và liên kết với nhau bằng với điệp từ “góp”. Ta có thể chia bài thơ đọc theo từ “góp” sẽ là hai nửa thể hiện trong quan hệ đối lập. Nửa đầu nói về con người, chất phác, giản dị, tình cảm, có chút lém lỉnh, đáng yêu. Ngược lại, nửa sau là từ “góp” nói về đất nước, lời thơ muôn màu, muôn vẻ. Nghệ thuật tương phản này là bài ca ca ngợi sự hy sinh của nhân dân để làm nên vẻ vang cho đất nước. Đằng sau mỗi địa danh là một cái tên, đằng sau mỗi cái tên là một huyền thoại và đằng sau những huyền thoại là cuộc đời của những con người. Dân tộc ta đã làm nên đất nước, đó là đôi vợ chồng thủy chung, cũng là những anh hùng, những chiến sĩ quyết tử vì Tổ quốc quyết sinh, những học trò nghèo mài bút, ông Đốc, ông Trạng, bà Đen, bà Điểm.. .Hơn nữa, khi người dân còn nhỏ bé, những cái tên vô danh, ẩn dụ bằng hình ảnh con cóc, con gà… và trong lòng người đã có những nhân vật chỉ nhắc đến. Đến đây ta mới thấy sự uy nghiêm linh thiêng, sự ngưỡng mộ, tôn thờ đã được ẩn dụ bằng hình ảnh “Chín mươi chín con voi góp công dựng nước tổ Hùng Vương” ở nơi phúc địa quanh núi Hy Cương hay “Rồng nằm im trong xanh thẳm”. con sông”. Dân tộc ta rất đa dạng, rất nhiều, nhưng họ chỉ làm một việc chung và thống nhất chung tay xây dựng đất nước Việt Nam của chúng ta. Việc nhà thơ sử dụng cụm từ “góp công” thật ấn tượng, gợi sự kiên trì, bền bỉ, với ý chí đồng lòng, sự đoàn kết của trăm họ trong một việc góp phần tạo nên một không gian vẻ vang cho nhân dân. . Nhân dân đã góp sức, bằng tình đoàn kết, bằng máu xương, tính mạng, tên tuổi, tài năng. Nhờ đó, thế hệ mới của chúng ta đã trở thành một đất nước hữu hình – một đất nước của những anh hùng. Trước hết ta đến với hai câu thơ sau “Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha” Nó được viết liền mạch theo kiểu ngắt dòng và diễn đạt theo lối phủ định để khẳng định. Nó như một bản tuyên ngôn sinh động mang hình thức nghị luận và khẳng định mạnh mẽ những hy sinh to lớn của nhân dân. Tiếp đó, câu thơ thứ ba “Ôi đất nước sau bốn nghìn năm nhìn đâu cũng thấy” sử dụng thán từ “Ôi” – một câu cảm thán. Nhà thơ dường như không giấu được nỗi lòng, bộc lộ cảm xúc nghẹn ngào trước những hi sinh to lớn của nhân dân. Tác giả nhấn mạnh ở cụm từ “bốn nghìn năm” – đó là chiều dài lịch sử của dân tộc, bốn nghìn đời tổ tiên đều đánh trận, đời cha đi trước, đời con theo sau, cha con là đồng chí. các đồng chí chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc. Kết thúc bài thơ là một câu thơ vô cùng ấn tượng “Đời đã biến núi sông ta…” chính bởi sự biến đổi đó. Các câu trước mỗi dòng từ mười ba đến mười lăm âm tiết, nhưng ở câu cuối chỉ là một trong tám âm tiết. Nó như một sự chiêm nghiệm, và một đúc kết để rút ra chân lý cô đọng. Ngoài ra, nó còn được kết thúc bằng hai âm bằng và như một giọng trầm để phản âm. Dấu chấm lửng kết thúc bài thơ như một khoảng lặng trước những xao xuyến của bao tâm hồn. Nhưng ấn tượng nhất là lời thơ đầy cô đọng. Cuộc đời của những con người ấy tuy ngắn ngủi, hữu hạn nhưng đã hóa thành núi sông, gửi gắm vô hạn, uy nghiêm vĩnh hằng. Đây chính là sự biến đổi phi thường khẳng định nhân loại chúng ta kỳ diệu biết bao! Họ không chỉ hóa thân để tạo hình đất nước mà còn tạo nên tâm hồn đất nước. Bên cạnh vẻ đẹp về chiều rộng và không gian địa lý, đất nước còn hiện lên với chiều dài lịch sử. Như chúng ta đã biết, Nguyễn Trãi là một nhà sử học chính thống, làm quan dưới triều Lê sơ, ông là một nhà sử học, nghiên cứu về lịch sử. Nguyễn Trãi coi lịch sử Việt Nam là sự tiếp nối của nhiều triều đại và nhiều đời vua “Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”. Nhưng ngược lại, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm không nhìn nhận lịch sử theo lối của một nhà sử gia chính thống. Đoạn thơ có lẽ mang đậm màu sắc lịch sử nhất trong khi toàn bộ thi phẩm này ta phải kể đến “Em ơi em Hãy nhìn rất xa Vào bốn ngàn năm Đất Nước” Năm tháng nào cũng người người lớp lớp Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta Cần cù làm lụng Khi có giặc người con trai ra trận Người con gái trở về nuôi cái cùng con” Nếu như Nguyễn Trãi đã nhìn nhận lịch sử đất nước ta theo lối của một nhà sử gia chính thống thì Nguyễn Khoa Điềm lại nhìn nhận vào lịch sử theo lối gợi mở lịch sử. Ông xoáy sâu và nhấn mạnh vào những con số “bốn ngàn năm”. Bốn ngàn năm ấy là bốn ngàn những lớp người Việt Nam ra trận, là bốn ngàn thế hệ người Việt Nam ra trận, và lớp cha trước lớp con sau cũng thành đồng chí chung câu quân hành đó. Đó là một cuộc chạy đua tiếp sức của nhiều người dân Việt Nam. Nói về lịch sử bốn nghìn năm của đất nước, cùng nhà thơ không nhắc lại các triều đại, các anh hùng nổi tiếng mà tập trung nhấn mạnh vai trò của khi những con người vô danh “Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước.” Họ đã làm ra Đất Nước bằng chính là những công việc hằng ngày và trong suốt cuộc đời họ “Nhưng họ đã làm ra Đất Nước Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm Có nội thù thì vùng lên đánh bại” Họ truyền cho nhau ngọn lửa đã mang đến sức sống của dân tộc Việt Nam. Họ bảo vệ đất đai xứ sở từ thời vua Hùng cầm gươm đi mở cõi. Họ đã gìn giữ và truyền lại cho các thế hệ sau với mọi giá trị văn hóa, văn minh tinh thần và vật chất của cả đất nước, của dân tộc là hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, ngôn ngữ dân tộc, cả tên xã, tên làng và truyền thống chống thù trong và giặc ngoài. Để rồi khi đọc đến đây, đã từ trong trái tim của mỗi con người yêu văn chương đã vọng lại những vần thơ của Hoàng Trung Thông ở trong bài thơ “Báng súng” “Ta lại viết bài thơ trên báng súng Con lớn lên đang viết tiếp thay cha Người đứng dậy viết tiếp người ngã xuống Ngày hôm nay viết tiếp ngày hôm qua”. Chính nhân dân đã viết lên trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam. Bởi vậy, để viết lên trang sử vẻ vang của nhiều dân tộc Việt Nam thì đó là máu, là mồ hôi, là nước mắt của nhân dân ta. Cũng như vậy, ta lại nhớ đến hình ảnh anh giải phóng quân trong bài thơ là “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân “Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng Và Anh chết trong khi đang đứng bắn Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng. Chợt thấy anh, giặc hốt hoảng xin hàng Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công Anh tên gì hỡi Anh yêu quý Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng Như đôi dép dưới chân Anh giẫm lên bao xác Mỹ Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường Chỉ để lại cái dáng-đứng-Việt-Nam tạc vào thế kỷ Anh là chiến sỹ Giải phóng quân. Tên Anh đã thành tên đất nước Ôi anh Giải phóng quân! Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhất Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân” Không một dòng địa chỉ nào cũng chẳng có một tấm hình trước lúc lên đường nhưng những con người ấy vẫn nguyện bước chân ra đi để bảo vệ đất đai xứ sở nguyện ngã xuống “Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”. Hay như các triết gia người Đức – Engels cũng đã từng nói “Nếu như không có máu, mồ hôi và nước mắt thì không có lịch sử dân tộc”. Mạch suy nghĩ đã sâu lắng dẫn đến tư tưởng cốt lõi, là điểm hội tụ và cũng là điểm đỉnh của cảm xúc trữ tình ở cuối đoạn Đất Nước này là Đất Nước của nhiều Nhân dân. Khi thể hiện tư tưởng Đất Nước của Nhân dân, nơi tác giả đã trở về với ngọn nguồn phong phú, và đẹp đẽ của văn hóa, với văn học dân gian mà tiêu biểu là ca dao, và vẻ đẹp tinh thần của nhân dân, hơn đâu hết, có thể tìm thấy trong ca dao, dân ca, có truyện cổ là Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao, thần thoại và những câu thơ hai vế song song là một cách định nghĩa về Đất Nước thật giản dị mà là cũng thật độc đáo. Nền văn hóa của Đất Nước Việt Nam là nền văn hóa của người Nhân dân, do Nhân dân sáng tạo nên. Trong nền văn hóa ấy, nơi ca dao thần thoại luôn chứa đựng cả lịch sử, xã hội, văn hóa của Đất Nước, và đặc biệt là đời sống tâm hồn của nhân dân. Nhà thơ đã vận dụng vốn ca dao, khiến cho dân ca một cách sáng tạo không lặp lại nguyên văn mà chỉ sử dụng ý tứ và là hình ảnh của ca dao, vẫn gợi nhớ đến ca dao nhưng đã lại trở thành một câu thơ, có một ý thơ gắn bó trong mạch chung của toàn bài để từ đó đã khẳng định Con người Việt Nam say đắm trong tình yêu. Thành công nghệ thuật của đoạn thơ này là sự vận dụng, kết hợp yếu tố dân gian với cách thể hiện tư duy hiện đại, tạo nên màu sắc thẩm mĩ vừa quen thuộc vừa mới lạ. Chất liệu văn hóa, nơi văn hóa dân gian được sử dụng tối đa, tạo nên không khí, giọng điệu, không gian nghệ thuật riêng giản dị, gần gũi, thực tế, bay bổng, mộng mơ của ca dao, truyền thuyết nhưng mới mẻ trong cách cảm nhận và thể hiện trong hình thức thơ tự do. Có thể nói, chất dân gian đã thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm của tác giả tạo nên nét nghệ thuật đặc sắc của đoạn thơ này. Qua đoạn trích Đất Nước, chúng ta cũng phần nào nhận thấy nét đặc sắc trong phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm là sự kết hợp giữa chính luận và trữ tình, giữa suy tưởng và cảm xúc, ngôn ngữ thơ đầy dung dị, gần gũi. hơi thở gần gũi, ấm áp của cuộc sống. Chính luận đã ngời sáng phẩm chất trí tuệ hài hòa với chất trữ tình phong phú. Bài thơ “điệp nhịp tim” càng làm cho chúng ta thêm yêu và tự hào về 4000 năm lịch sử của đất nước Việt Nam. Qua đó ta thấy, dù ở vùng địa lý nào, lịch sử hay văn hóa nào thì “Đất nước này là của dân” sẽ được nhân dân mãi mãi bảo vệ và gìn giữ. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã chắt lọc, tôi luyện và lên men trong thơ mình vẻ đẹp duyên dáng, tao nhã của văn hóa dân gian và thơ văn hóa. Tính nhất quán trong toàn bộ đoạn thơ đã với những câu thơ dài ngắn đan xen như sự tan chảy của cảm xúc, của dòng suy nghĩ miên man. Xuyên suốt cả bài thơ, hai chữ “Đất nước” luôn được viết hoa trang trọng, lặp lại như một nốt nhạc chủ đạo trong bản hùng ca về sông núi. Nhờ đó, tác phẩm đã khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc và trách nhiệm công dân trong mỗi chúng ta. Mặc dù bài thơ được viết theo thể thơ lục bát, khó đọc, khó nhớ nhưng với những gì Nguyễn Khoa Điềm thể hiện trong nhiều tác phẩm này, ông xứng đáng là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam thời bấy giờ. . Đồng thời, “Đất Nước” cũng xứng đáng trở thành hành trang tinh thần của những người yêu văn học vì đã bao lần viết về đề tài tình yêu quê hương, tình yêu đất nước còn giá trị cho đến hôm nay.
Phân tích Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm để hiểu và cảm nhận rõ hơn cảm nghĩ mới mẻ của tác giả về đất nước qua những vẻ đẹp được phát hiện ở chiều sâu trên nhiều bình diện lịch sử, địa lí, văn hoá,... cùng với sự nhấn mạnh tư tưởng "Đất Nước của Nhân dân" qua giọng thơ trữ tình - chính luận sâu lắng, thiết Hướng dẫn phân tích bài Đất nước Nguyễn Khoa ĐiềmĐề bài Phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Phân tích yêu cầu đề bài- Yêu cầu về nội dung phân tích nội dung, nghệ thuật của bài thơ Đất Phạm vi tư liệu, dẫn chứng các câu văn, từ ngữ, chi tiết, hình ảnh... tiêu biểu trong bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Phương pháp lập luận chính Phân Hệ thống luận điểm bài Đất nước- Luận điểm 1 Cảm nhận về đất nước từ nhiều phương diện lịch sử, văn hóa, chiều sâu của không gian, chiều dài của thời Luận điểm 2 Tư tưởng cốt lõi Đất nước của Nhân dân.>>> Tham khảo lại nội dung hướng dẫn soạn bài Đất nước - Nguyễn Khoa ĐiềmII. Lập dàn ý chi tiết phân tích bài Đất nước Nguyễn Khoa Điềm1. Mở bài phân tích Đất nước- Giới thiệu tác giả, tác phẩm+ Nguyễn Khoa Điềm thuộc lớp nhà thơ lớn lên trong những ngày hòa bình và trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, tiêu biểu cho thế hệ thơ trẻ những năm chống Mĩ.+ Bài thơ Đất nước trích trong trường ca Mặt đường khát vọng, là một bài thơ có chất triết lí sâu sắc, thể hiện tư tưởng “Đất nước của nhân dân”, thức tỉnh thanh niên, tuổi trẻ thành thị miền Nam xuống đường đấu khảo mẫu mở bàiNhà thơ người Nga Ê-xê-nhin từng viết"Nếu thiên thần đồng thanh lên tiếng gọi- Bỏ nước Nga lên sống ở thiên đường!Tôi sẽ nói - Thiên đường tôi chẳng lấyTrao cho tôi Tổ quốc yêu thương!"Hai tiếng Tổ quốc chẳng biết tự bao giờ luôn luôn trang trọng và thiêng liêng đến thế. Đề tài về quê hương đất nước luôn hấp dẫn và khơi gợi trong trái tim của biết bao nhà văn, nhà thơ. Thi ca tìm đến một nghệ sĩ tiêu biểu của thời kì"Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nướcMà lòng phơi phới dậy tương lai"Không ai khác đó là Nguyễn Khoa Điềm - thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Nguyễn Khoa Điềm khẳng định tên tuổi của mình trên diễn đàn thơ ca Việt Nam với phong cách thơ chính là trữ tình - chính luận với đoạn trích Đất Thân bài phân tích Đất nước* Luận điểm 1 Cảm nhận của tác giả về đất nước từ nhiều phương diện- Lí giải cội nguồn của đất nước phương diện lịch sử, văn hóa dân tộc+ “Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi” -> Đất nước đã có từ lâu đời+ “ngày xửa ngày xưa” -> gợi nhớ đến câu mở đầu các câu chuyện dân gian+ “miếng trầu” -> tục ăn trầu của người Việt và truyện cổ tích trầu cau+ “Tóc mẹ thì bới sau đầu” -> thói quen búi tóc của những người phụ nữ Việt Nam=> Đất nước gắn liền với truyền thống văn hóa, quá trình hình thành phong tục tập quán.+ “Thương nhau bằng gừng cay muối mặn” -> thói quen tâm lí, truyền thống yêu thương của dân tộc.+ “cái kèo cái cột thành tên”, “một nắng hai sương” -> Đất nước trưởng thành cùng quá trình lao động sản xuất.=> Đất nước bắt nguồn từ những điều bình dị, gần gũi trong đời sống của người Việt Nam từ xa xưa mà không hề xa xôi, trừu Cảm nhận về đất nước qua phương diện không gian và thời gian+ Về không gian địa lí"Đất / nước" hai yếu tố được tách riêng để suy tư một cách sâu sắc“nơi anh đến trường”, “nơi em tắm”, “nơi em đánh rơi... thương thầm” là nơi sinh sống của mỗi người sinh ra, lớn lên, đi học, trưởng thành và những những rung động đầu đời,...“nơi con chim phượng hoàng”, “nơi con cá ngư ông móng nước biển khơi” Là núi, sông, rừng, biển"là nơi dân mình đoàn tụ..." là không gian sinh tồn của cộng đồng dân tộc qua bao thế hệ + Về thời gianDài “đằng đẵng” từ xa xưa, gắn liền với truyền thuyết các dân tộc anh em cùng chung con Rồng, cháu Lạc và truyền thuyết dựng nước của vua Hùng cùng ngày giỗ hiện tại đất nước có trong tấm lòng mỗi con người, mỗi người đều thừa hưởng những giá trị của đất nước, khi có sự gắn kết giữa mỗi người đất nước sẽ nồng thắm, hài hòa, lớn lao. Đó là sự gắn kết giữa cái riêng và cái tương lai thế hệ trẻ sẽ “mang đất nước đi xa”, “đến những ngày mơ mộng”, đất nước sẽ trường tồn, bền vững.=> Đất nước được cảm nhận suốt chiều dài thời gian lịch sử từ quá khứ đến hiện tại và tương lai.* Luận điểm 2 Tư tưởng cốt lõi Đất nước của Nhân Thiên nhiên địa lí của đất nước không chỉ là sản phẩm của tạo hóa mà được hình thành từ phẩm chất và số phận của mỗi người, là một phần máu thịt, tâm hồn con người+ Nhờ tình nghĩa yêu thương, thủy chung mà có “hòn Vọng Phu”, “hòn Trống Mái”+ Nhờ tinh thần bất khuất, anh hùng trong quá trình dựng nước và giữ nước mà có những ao đầm, di tích lịch sử về quá trình dựng nước.+ Nhờ truyền thống hiếu học mà có những “núi Bút non Nghiên”- Nhân dân làm nên lịch sử 4000 năm+ Họ là những người con trai, con gái bình dị nhưng luôn thường trực tình yêu nước.+ Tác giả nhấn mạnh đến những con người vô danh làm nên lịch sử, khẳng định vai trò của mỗi cá nhân với lịch sử dân Nhân dân tạo ra và giữ gìn những giá trị vật chất, tinh thần cho đất nước văn hóa “truyền hạt lúa”, “truyền lửa”, “truyền giọng nói”, “gánh theo tên xã, tên làng”,... từ đó xây dựng nền móng phát triển đất nước lâu Tư tưởng cốt lõi, cảm hứng bao trùm cả đoạn trích “đất nước này là đất nước của nhân dân đất nước của ca dao thần thoại”, đất nước ấy thể hiện qua tâm hồn con người biết yêu thương, biết quý trọng trọng tình nghĩa, công sức và biết chiến đấu vì đất Kết bài phân tích Đất nước- Khái quát giá trị nội dung bài thơ Đất nước được cảm nhận ở nhiều phương diện, cái nhìn mới mẻ về đất nước với tư tưởng cốt lõi là tư tưởng đất nước của nhân dân. Đồng thời cũng nêu lên trách nhiệm của các thế hệ, đặc biệt là thế hệ trẻ với đất nước Đặc sắc nghệ thuật+ Sử dụng các chất liệu của văn hoá dân gian đa dạng, sáng tạo+ Ngôn ngữ giàu chất suy tư, triết luận sâu sắc+ Thể thơ tự do hiện đại linh hoạt+ Giọng thơ trữ tình - chính luận sâu lắng, thiết Nêu cảm nhận của em về bài thơ- Liên hệ trách nhiệm của thế hệ trẻ ngày nay với đất nước. Xem thêm hướng dẫn lập dàn ý phân tích bài Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm chi tiết và đầy đủ để không bỏ sót ý cho bài văn của Sơ đồ tư duy phân tích bài Đất Nước của Nguyễn Khoa ĐiềmSơ đồ tư duy phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm>>> Xem thêm Sơ đồ tư duy Đất nước - Nguyễn Khoa ĐiềmIII. Một số bài văn hayphân tích bài Đất nước - Nguyễn Khoa Điềm1. Phân tích Đất nước bài phân tích chuyên sâuÔi Tổ quốc, ta yêu như máu thịtNhư mẹ cha ta, như vợ như chồngÔi Tổ quốc, nếu cần, ta chếtCho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông”Hai tiếng “Đất nước” nhỏ bé thôi, nhưng mỗi khi nó vang lên làm rạo rực biết bao trái tim của người thi nhân. Chính vì thế, “Đất Nước” đã đi vào thơ ca, trở thành cảm hứng bất tận, Đất Nước trong thơ Nguyễn Đình Thi là “những cánh đồng thơm mát, những ngả đường bát ngát, những dòng sông đỏ nặng phù sa” lớn lao và đẹp đẽ. Nhưng “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm là những hình ảnh gần gũi đến lạ, với những khía cạnh hết sức thân thuộc, bình dị thông qua bản trường ca mang tên “Mặt đường khát vọng” mà tiêu biểu là trích đoạn “Đất Nước” trong chương thứ năm. Với hình tượng trung tâm là đất nước, thông qua những vần thơ kết hợp giữa cảm xúc và suy nghĩ, trữ tình và chính luận, Nguyễn Khoa Điềm muốn thức tỉnh ý thưc, tinh thần dân tộc, tình cảm gắn bó với nhân dân, đất nước của thế hệ trẻ trong những năm kháng chiến đầy gian ca "Mặt đường khát vọng" được tác giả sáng tác và hoàn thành ở chiến khu Trị Thiên vào năm 1971. Tác phẩm dường như đã mang đến sự thức tỉnh cho tuổi trẻ miền Nam vùng đô thị tạm chiếm, thức tỉnh về sứ mệnh của thế hệ mình xuống đường đấu tranh để giải phóng đất nước. Đoạn trích “Đất nước” thuộc chương V của bản trường ca này. Đoạn trích là suy nghĩ của tác giả về đất nước được nhìn trên nhiều khía cạnh, với tư tưởng chủ đạo "đất nước của nhân dân". Thơ của Nguyễn Khoa Điềm giàu chất suy tư cảm xúc dồn nén, thể hiện tâm tư của một người trí thức, tích cực tham gia vào cuộc chiến đấu của nhân dân. Có lẽ vì vậy mà tư tưởng “đất nước của nhân dân" được nhà thơ gửi gắm một cách sâu sắc trong đứa con tinh thần của nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm là những hình ảnh gần gũi đến lạ, đó là ảnh tượng miếng trầu miệng bà nhai, là câu chuyện cổ tích hằng đêm mẹ thường kể, là búi tóc của mẹ... là những hình ảnh quá đỗi bình dị, thân quen thường nhật đến ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng Đất Nước có từ ngày đó…Để lý giải cho cội nguồn đất nước, Nguyễn Khoa Điềm ngay từ khi mở đầu bài thơ đã đưa ra một lời khẳng định chắc chắnKhi ta lớn lên Đất Nước đã có rồiĐất nước có từ bao giờ không ai trong chúng ta biết cả, chỉ biết rằng từ lúc lọt lòng mẹ cho đến khi nhận thức được thế giới xung quanh thì đất nước đã và đang tồn tại. Mở đầu bài thơ đó là cách xưng hô “ta” vang lên một cách tự hào. Tác giả đã đại diện cho cả một thế hệ có ý thức, có trách nhiệm đi tìm hiểu cội nguồn của đất nước. Câu thơ được viết dưới hình thức khẳng định, kết hợp với cụm từ “đã có rồi” thể hiện niềm tự hào mãnh liệt về sự trường tồn của đất nước qua mấy nghìn năm lịch sử. Nguyễn Trãi cũng từng khẳng định trong “Bình Ngô đại cáo”“Như nước đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”Vì vậy khi ta lớn lên đất nước đã có rồi, hiện diện xung quanh chúng ta với những gì yêu thương nhất. Bằng việc khẳng định sự tồn tại lâu đời của đất nước, Nguyễn Khoa điềm đã mở ra không gian cổ tích, nơi có tiếng đồng vọng về một thời xa xưa bằng một lời kể "ngày xửa ngày xưa" trong câu chuyện cổ tích của mẹ“Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa… mẹ thường hay kể".Tác giả đã nhắc đến cụm từ chỉ thời gian “ngày xửa ngày xưa”. Đó là thời gian trừu tượng mơ hồ, không ai biết từ bao giờ chỉ biết nó đã rất xa xôi. Chắc chúng ta không còn xa lạ với cụm từ ấy nữa. Bởi cụm từ này là mở đầu của những câu chuyện cổ tích, vẽ lên trong tiềm thức của người đọc hình ảnh của cô Tấm bước ra từ quả thị, chàng Thạch Sanh tốt bụng cứu người, Thánh Gióng kiên cường bất khuất... những câu chuyện ấy đã trở thành một dòng nước mát tưới đẫm lên tuổi thơ của mỗi người. Đó là một buổi đêm thanh bình của làng quê, là tiếng võng kẽo kẹt, là âm thanh của tiếng quạt mo đong đưa, mà dịu dàng hơn là tiếng kể chuyện cổ tích của bà, của mẹ đã đưa con vào giấc ngủ. Những câu chuyện đó là luồng gió mát nuôi dưỡng tâm hồn mỗi con người. Chính vì thế nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ có viếtTôi yêu chuyện cổ nước tôi Vừa nhân hậu lại tuyệt vời sâu sa Thương người rồi mới thương ta Yêu nhau dù mấy cách xa cũng gầnĐất nước là tiếng đồng vọng từ hàng nghìn năm lịch sử, nhưng để tồn tại qua ngần ấy năm thì đất nước cũng “bắt đầu”, cũng “lớn lên” kiên cường bất khuấtĐất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặcĐể khẳng định nền văn hóa lâu đời của đất nước tác giả đã sử dụng thành công nghệ thuật đối lập “bắt đầu” với “bây giờ”. “Bắt đầu” là quá khứ, “bây giờ” là hiện tại tạo nên mối quan hệ chặt chẽ, tạo nên khoảng thời gian liên tục tiếp nối nhằm khẳng định tập tục ăn trầu đã có từ xa xưa và vẫn duy trì cho đến ngày nay. “Miếng trầu là đầu câu chuyện” là biểu tượng của sự bắt đầu trọn vẹn, suôn sẻ, là vật không thể thiếu trong bất kỳ lễ hội đình đám, lễ nghi. “Đất nước” hiện lên là hình ảnh to lớn kỳ vĩ nhưng lại được cảm nhận từ một miếng trầu nhỏ bé bởi miếng trầu có vai trò ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam. Miếng trầu đã nhắc người đọc gợi nhớ đến một câu chuyện được coi là cổ xưa nhất của Việt Nam “Sự tích trầu cau”. Hơn nữa “miếng trầu” xuất hiện trong những dịp lễ tết trọng đại trong thờ cúng tổ tiên. Nó cũng là sợi tơ để kết nối tình yêu đôi lứa“Miếng trầu ăn ngọt như đường Đã ăn lấy quả thì thương lấy người”Tác giả đã cảm nhận đất nước từ một hình ảnh nhỏ bé nhưng nó là hiện thân của phong tục đẹp đẽ đã có từ lâu đời của con người Việt Nam. Một đất nước chỉ thực sự vững bền khi trải qua quá trình dựng nước và giữ nước, trải qua quá trình chiến đấu gian lao, vất vả. Với hình tượng cây tre gắn bó lâu đời với người dân Việt Nam từ ngàn xưaĐất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặcTác giả đã nói đến sự trưởng thành và phát triển của đất nước trải dài 4000 năm lịch sử qua nghệ thuật ẩn dụ đất nước “lớn lên”. Tác giả đã mượn hình tượng của cây tre để nhắc nhở cho người đọc về một truyền thống vô cùng quen thuộc đối với người dân Việt. Trong đời sống sinh hoạt, xe làm đồ dùng gần gũi, khi có chiến tranh cây tre chất phác giản dị ấy là biểu tượng cho tinh thần kiên cường bất khuất của dân tộc ta. Vì thế tre được ca ngợi tre xung phong vào xe tăng đại bác, tre giữ làng giữ nước giữ mãi nhà tranh, giữ đồng lúa chín,... tre anh hùng lao động! tre anh hùng chiến đấu! Hơn nữa hình tượng cây tre đã nhắc nhớ cho người đọc về truyền thuyết Thánh Gióng đánh đuổi giặc Ân, về quá trình bảo vệ tổ quốc. Đó cũng là truyền thống ngàn đời của dân tộc yêu nước chống ngoại xâm. Cây tre là nhân chứng lịch sử cho biết bao trận đánh oai hùng, cho biết bao máu, nước mắt và mồ hôi của dân tộc ta trên chặng đường gìn giữ độc nước của Nguyễn Khoa điểm hiện lên với muôn vàn khía cạnh của cuộc sống đời thường. Khép lại quá trình chiến đấu gian lao của dân tộc, tác giả tiếp tục đưa người đọc tiếp cận với những hình ảnh vô cùng giản dịTóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặnTác giả đã đề cập đến một tập tục búi tóc sau đầu của người phụ nữ Việt Nam cho gọn gàng để tiện cho lao động sản xuất, lâu dần trở thành một nét đẹp thanh lịch dịu dàng của người phụ nữ. Hình ảnh búi tóc gọn gàng sau gáy mẹ những buổi bẻ bắp, làm nương, những ngày xay gạo nuôi quân, là hình tượng của người phụ nữ, là hậu phương vững chắc cho gia đình. Trong ca dao cũng từng xuất hiện hình ảnh này“Tóc ngang lưng vừa chừng em bới Để chi dài cho bối rối dạ anh”Và đó là lý do vì sao mà tình cảm vợ chồng của những con người sống trên mảnh đất ấy lạnh nồng nàn chung thủy đến vậyCha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặnBằng câu ca dao thân thương “gừng cay muối mặn”, cuộc sống gia đình của những con người sống trong đất nước hiện lên thật đẹp đẽ. Đó là gia vị quen thuộc trong bữa ăn của người Việt. Nó còn là vị thuốc chữa bệnh cho người bình dân. Thành ngữ ấy được vận dụng một cách đặc sắc trong câu thơ vừa nhẹ nhàng, vừa thấm thía. Muối tất nhiên phải mặn, gừng chắc chắn cay, chúng đều là những sự thật hiển nhiên, những chân lý không thể thay đổi được, cũng như tình cảm thủy chung trời bể của đôi ta, không biết đến khi nào phai nhạt. Tác giả đã lấy vị mặn của muối, vị cay của gừng để nói đến tình cảm thủy chung son sắt tình nghĩa vợ chồng. Đó cũng chính là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Chính vì thế, hình ảnh ấy không còn xa lạ trong ca dao Việt Nam“Muối ba năm muối đang còn mặn Gừng chín tháng gừng hẵng còn cay Đôi ta nghĩa nặng tình dày Có xa nhau đi nữa thì ba vạn sáu ngàn ngày mới xa”Đóng lại trang thơ về những tình cảm thuỷ chung mặn nồng, Nguyễn Khoa Điềm đã mang độc giả tiếp cận với phong tục đặt tên và cuộc sống lao động sản xuất của con người nơi đất nướcCái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng Đất Nước có từ ngày đó…Với quan niệm đặt tên con không bao giờ đẹp sẽ bảo vệ chúng khỏi sự hủy phá của ma quỷ, những người làm cha làm mẹ đã mượn hình tượng cái kèo cái cột đầy thân quen. Hơn hết người Việt có phong tục tập quán đặt tên cho con bằng những sự vật cần gũi gắn bó trong đời sống hằng ngày. Cái kèo cái cột là biểu tượng cho sự bền vững của mái ấm gia đình mà gia đình ấy lại là những phần tử nhỏ của xã hội. Theo người Việt xưa họ dùng cái kèo cái cột giằng vào nhau giữ cho ngôi nhà thêm bền vậy, sự phát triển của đất nước luôn gắn liền với sự phát triển quá trình lao động sản xuất. Với nền văn minh lúa nước lâu đời, những người dân nơi đây “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, một nắng hai sương trải qua xay, giã, giần, sàng mới ra hạt gạo trắng ngần thơm ngátHạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàngQua nghệ thuật liệt kê một loạt các động từ xay, giã, giần, sàng đã diễn tả được cụ thể quá trình làm ra hạt gạo. Hòa trong âm điệu dồn dập mạnh mẽ của quá trình lao động sản xuất là tiếng cối vang lên đều đặn, là những giọt mồ hôi rơi trên hạt gạo trắng ngần. Thành ngữ “một nắng hai sương” chỉ sự khó khăn vất vả. Câu thơ đã diễn tả một cách sinh động sự khó khăn, vất vả của người nông dân, khi làm ra những hạt cơm ngọt bùi. Thấm trong từng hạt gạo nhỏ bé là vị mặn của mồ hôi, vị cay của sự nặng nhọc và vất vả. Chính vì thế câu thơ phảng phất lời nhắn nhủ của cha ông xưa“Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”Câu thơ cuối vang lên ngắn gọn súc tích, kết luận và khẳng định một cách chắc chắn đất nước đã có từ lâu đờiĐất Nước có từ ngày đó…Khổ thơ được viết theo cấu trúc tổng phân hợp đã làm nên chất trữ tình chính luận trong thơ của Nguyễn Khoa Nguyễn Khoa Điềm giàu chất trữ tình chính luận. Với lối thơ vừa lãng mạn, vừa suy tư ấy, tác giả khi cảm nhận về bản chất của đất nước cũng đem đến cho ta nhiều cảm xúc mới“Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm Đất Nước là nơi ta hò hẹn Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”Tác giả đã sử dụng điệp cấu trúc theo khoảng định nghĩa đất nước là, nước là, đất nước là. Từ đó giúp tác giả trình bày quan điểm cách nhìn cảm xúc mới mẻ về “đất nước”. Hơn thế nữa đất nước được sử dụng chiết tự từ độc đáo, tách “đất nước" ra làm hai thành tố để định nghĩa rồi sau đó gộp lại. Đất nước là nước, là đất, là muôn hình vạn trạng của đời sống nhân dân, và rồi lại hài hòa trong một chỉnh thể thống nhất là tổ quốc, dân tộc. “Đất là nơi anh đến trường” đó là không gian quen thuộc của anh, là nơi hằng ngày anh đến trường để tiếp thu tri thức làm chủ cuộc sống gắn bó với những kỷ niệm thời ấu thơ. “Nước” là không gian riêng tư là dòng sông em tắm mát, gợi lên hình ảnh thân thuộc đẹp đẽ. Qua cách diễn giải ấy khiến cho người đọc hình dung cụ thể đất nước là nơi ta lớn lên, sinh hoạt và học tập. Nhưng khi tách ra, đất nước lại gắn bó với những kỷ niệm riêng tư của mỗi con người. Còn khi gộp lại đất nước là không gian chung của anh và em nơi ta hò hẹn, nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm. Đất nước hòa nhập là một trở thành không gian hò hẹn là nơi chắp cánh cho tình yêu đôi lứa. Câu thơ ấy đã phảng phất trong ca dao của cha ông xưa“Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai Khăn vắt lên vai”Hay ý thơ của Nguyễn Khoa Điềm có sự gặp gỡ với những cảm nhận đầy sâu sắc của nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn"Nếu anh đi với người yêu Chỉ xin anh nhớ một điều nhỏ thôi Con đường ta đã dạo chơi Xin đừng đi với một người khác em Hàng cây nay đã lớn lên Vươn cành để lá êm đềm chạm nhau Hai ta ai biết vì đâu Hai con đường sẽ xa nhau xa hoài Nếu cùng người khác dạo chơi Xin anh hãy tránh nẻo vui ban đầu" .Con đườngVẫn mạch cảm xúc thiết tha, nhà thơ say sưa lý giải"Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc” Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi"Câu thơ đã đưa người đọc đi theo mạch cảm xúc để đến với những không gian đất nước thân thương. Đó là hình ảnh của con chim phượng hoàng, hình ảnh con cá ngư ông, hình ảnh hòn núi bạc, nước biển khơi. Tất cả đều mang âm hưởng dân gian gợi ra một đất nước mênh mông, giàu đẹp. Đất nước không chỉ được đo bằng chiều dài lãnh thổ mà còn được đo bằng cả khúc ca ngọt ngào, bằng sự ngân vang của câu hát. Đất nước ta là đất của rừng vàng, là nước của biển bạc. Từ đó tác giả đã cảm nhận không gian địa lý của đất nước là rừng vàng biển bạc, là núi sông bờ cõi rộng lớn hùng vĩ giàu có. Bên cạnh đó còn là niềm tự hào sâu sắc của nhà thơ về non sông gấm vóc quê hương, thật trù phú, tươi đẹp, yên ả, thanh trù phú giàu đẹp đó gắn liền với thời gian đằng đẵngThời gian đằng đẵng Không gian mênh mông Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụTác giả đã sử dụng thành công hai từ láy “đằng đẵng”, “mênh mông”. “ Đằng đẵng” là chỉ thời gian dài vô tận , liên tục, bền bỉ, mà nhân dân ta đã đổ bao mồ hôi, xương máu để xây dựng, bảo vệ bờ cõi đất nước thành dải đất hình chữ S cho nhân dân mình đoàn tụ trong yêu thương tự hào. Còn “mênh mông” gợi lên một không gian bao la rộng lớn trù phú của rừng vàng biển bạc, của núi non bờ cõi. Từ đó tác giả đã cảm nhận đất nước qua chiều dài thời gian và chiều rộng không gian. Không chỉ vậy đất nước còn là nơi dân mình đoàn tụ. Cách gọi “dân mình” vang lên thật tự nhiên nhưng không kém phần thân thương, trìu mến yêu quý và tự hào. Chính vì thế đất nước là không gian sinh tồn của biết bao cộng đồng thế hệ người dân Việt"Đất là nơi Chim về Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng".Ở đoạn thơ này những hình tượng quen thuộc trong thần thoại, truyền thuyết như chim, rồng, Lạc long Quân, Âu Cơ, bọc trứng cùng tụ về trong một trường liên tưởng của nhà thơ. Sự hội tụ ấy làm bật lên ý thơ có tầm khái quát cao tác giả đã nhắc đến truyền thuyết, nguồn gốc của con người Việt Nam là được mẹ Âu Cơ đẻ ra bọc trăm trứng nở ra trăm con. Năm mươi con theo cha xuống biển làm nghề chài lưới, năm mươi con theo mẹ làm nghề trồng rau, nuôi tằm. Mặc dù ở cách xa nhau nhưng vẫn gắn bó làm tròn bổn phận với non sông đất nước. Đó là một nét đẹp tạo nên bản sắc văn hóa của con người Việt. Để từ đó tất cả các dân tộc trong đất nước đều là anh em trong mối quan hệ ruột thịt. Đọc khổ thơ chúng ta thấm thía một lời nhắn nhủ về tình non sông đất nước, về cội nguồn truyền thống của ông cha nước qua cách cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm không khô khan, mà tươi rói cảm xúc. Bởi đất nước không chỉ là sự thống nhất của các yếu tố lịch sử, địa lý, văn hóa, phong tục, mà đất nước gắn liền với đời sống, số phận của từng cá nhân ở mọi phương diện, là sự tiếp nối của các thế hệNhững ai đã khuất Những ai bây giờ Yêu nhau và sinh con đẻ cái Gánh vác phần người đi trước để lại Dặn dò con cháu chuyện mai sauQua cách sử dụng điệp ngữ kết hợp điệp cấu trúc nghệ thuật đối những “ai đã khuất” với “những ai bây giờ” để khẳng định những thế hệ nối tiếp nhau. Tác giả đã liệt kê một loạt những động từ yêu nhau, sinh con đẻ cái, gánh vác, dặn dò,.... Từ đó nhà thơ đã cụ thể hóa những trách nhiệm, nhiệm vụ to lớn thiêng liêng với đất nước. Đặc biệt trách nhiệm của thế hệ hôm nay vô cùng nặng nề nhưng vinh quang. Chúng ta vừa phải gánh vác những công việc nhọc nhằn, nặng nề của cha ông để lại, vừa phải dặn dò con cháu chuyện mai sau một cách ân cần, chu đáo để có thế hệ sẽ tiếp tục đưa đất nước đi xa đến một chân trời hòa bình, hạnh phúc, ấm no, giàu mạnhHàng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ sự mưu sinh, mỗi người có thể làm ăn lập nghiệp ở bất cứ đâu. Nhưng trong sâu thẳm tâm hồn của mỗi chúng ta đều mang dòng máu Việt. Trong những giờ khắc thiêng liêng nhất, niềm tự hào gắn bó với quê hương đất nước lại trỗi dậy nồng nàn. Từ “hằng năm” mở đầu hai câu thơ đã khẳng định thời gian lặp lại, liên tiếp. Câu thơ phảng phất lời dặn dò của cha ông ta“Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba”Hai chữ cuối đầu trong câu thơ đong đầy sự thành kính, thiêng liêng, đem đến cảm nhận dường như mọi thế hệ người dân Việt, từ những ai đã khuất đến những ai bây giờ còn sống và làm việc đều im lặng cúi đầu hướng về nguồn cội tổ tiên. Đó là truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta, một truyền thống tốt đẹp quý sự gắn bó sâu sắc của nhân dân với đất nước, nhà thơ đã phát hiện một chân lý giản dị mà sâu sắc đất nước là sự thống nhất của nhiều yếu tố, cái riêng và cái chung, cá nhân và cộng đồng, cái hằng ngày và cái vĩnh hằng. Đất nước luôn có trong mỗi con người, là trách nhiệm của cả công dân đất nước"Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước"Nhà thơ Sóng Hồng từng nhận xét “Thơ là tình cảm, lý trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật. Tình cảm ấy và lý trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường”. Qua những dòng thơ trăn trở của Nguyễn Khoa Điềm, ta thấy ở đó không chỉ đơn thuần là những vần thơ mà còn là tư tưởng, cảm xúc, tình cảm của tác giả. Tác giả đã gửi gắm tâm tư của mình vào đất nước, “đất nước trong anh và em hôm nay”. Đặc biệt hơn đó là cách xưng hô “anh em” ngọt ngào tha thiết với một giọng thơ thủ thỉ, tâm tình. “Bên kia sông Đuống" của Hoàng Cầm cũng đã sáng tạo ra một đối tượng như vậy để giãi bày khi nghe tin quê hương kinh Bắc bị tàn phá“Em ơi buồn làm chi Anh đưa em về sông Đuống”Vì sao trong anh và em lại có một phần đất nước? Đất nước có trong mỗi con người, sự gắn bó không thể tách rời. Bởi đất nước là nơi ta sinh ra, là nơi ta lớn lên gắn bó với những kỷ niệm tuổi ấu thơ. Đất nước nuôi dưỡng tâm hồn mỗi con người. Vì vậy đất nước hiện hữu trong mỗi cá nhân. Chúng ta cũng đã gặp tư tưởng ấy trong tác phẩm “Quê hương” của Giang Nam“Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất Có một phần máu thịt của em tôi”Tác giả đã sử dụng thành công nghệ thuật điệp cấu trúc theo kiểu đối xứng “khi... Đất nước...”. Từ đó giúp tác giả có thể bộc lộ được sự cảm nhận về đất nước trong mối quan hệ toàn diện khác nhau, kết hợp với động từ “cầm tay” được điệp lại hai lần. Khi hai người cầm tay nhau là lúc thấu hiểu được nhau, yêu thương, san sẻ mọi khó khăn ngọt bùi với nhau. Nói cách khác khi anh và em cầm tay là đó có sự giao thoa cảm xúc, giao thoa giữa tình yêu đất nước sự hai trái tim. Đó là mối quan hệ cá nhân gắn bó yêu thương. Còn động từ cầm tay xuất hiện lần thứ hai thể hiện một mối quan hệ cộng đồng dân tộc đó là sự đoàn kết thân thiết. Bên cạnh đó tác giả còn sử dụng tính từ “hài hòa nồng thắm” và “vẹn tròn to lớn”, vừa thể hiện được tình cảm riêng tư lại vừa thể hiện được tình cảm lớn lao tình cảm của đất nước của dân tộc qua nghệ thuật tăng những câu thơ trên tác giả tiếp tục khám phá những điều mới mẻ về đất nước, tác giả chỉ ra mối quan hệ giữa cá nhân với đất nước khi vòng tay rộng mở, đất nước không chỉ là sự kết nối giữa cá nhân với cá nhân mà là sự kết nối giữa cộng đồng dân tộc. Từ thế giới của anh và em nhỏ bé họ đã vượt qua để đến với cái ta chung với tình cảm hữu ái, đoàn khi nêu nhận thức về trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với đất nước, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện niềm tin trọn vẹn của mình vào thế hệ tương lai, những mầm non của đất nước. Ước mơ về thế hệ sau, thế hệ tương lai sẽ mang đất nước đi xa, kế tục phát huy tinh hoa văn hóa nước nhà là điều bất cứ ai cũng mong muốnMai này con ta lớn lên Con sẽ mang đất nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng“Mai này” là thời gian của tương lai, “con ta” là con của tác giả hay đó là thế hệ mai sau, thế hệ tương lai. Chỉ hai từ đó thôi đó thể hiện được tình cảm yêu thương trìu mến, hy vọng và tin cậy vào thế hệ trẻ. Còn “lớn lên” là sự phát triển là sự trưởng thành cả về mặt thể chất tư tưởng và suy nghĩ. Khi chúng lớn chúng sẽ “mang đất nước đi xa”. Động từ “mang” kết hợp với “đất nước” khiến cho người đọc hình dung, “Đất nước” không chỉ là khái niệm trừu tượng mơ hồ, mà đất nước trở nên hữu hình gắn bó với bổn phận, trách nhiệm của mỗi con người. Nhưng đất nước ấy còn đi xa hơn nữa. Đó là ẩn dụ sự phát triển của đất nước ra thế giới ra năm châu bốn bể, để có thể sánh vai với các cường quốc. Có lẽ cụm từ “những tháng ngày mơ mộng” được đặt ở cuối câu, thể hiện những ngày tháng tươi đẹp hòa bình, hạnh phúc. Chắc tác giả đang nhắc nhở về trách nhiệm của thế hệ mai sau phải phát triển đất nước, đồng thời đó là niềm tin vào tương lai tươi sáng của cả một dân ra, đó cũng là lời nhắc nhở về ý thức trách nhiệm của mỗi con người đối với đất nướcEm ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó san sẻ Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời…Giọng thơ tha thiết, sâu lắng với cách gọi “em ơi em” như một hình thức tâm tình của đôi lứa yêu nhau tạo những lời thơ bay bổng, thấm thía mà cũng chính là lời tự nhủ, lời tự dặn mình. Nguyễn Khoa Điềm tạo thơ hóa những vấn đề chính trị, khiến cho tính chính luận không hề khô khan, không còn mang màu sắc giáo huấn mà là lời tự nhủ, tự dặn chân thành xuất phát từ trái tim. Tác giả lại đưa ra những cảm nhận sâu sắc, mới mẻ về đất nước trong câu thơ “đất nước là máu xương của mình”. Có những tượng đài bất tử về đất nước xuất hiện trong thi ca nhưng khi nói đất nước về đời người thì có lẽ chỉ có Nguyễn Khoa Điềm. “Máu, xương” là hai thành tố không thể thiếu trong sự sống của mỗi con người. Như vậy đất nước gắn bó máu thịt, đất nước có vai trò ý nghĩa quan trọng đối với mỗi cá nhân. Bởi như Chế Lan Viên đã từng viếtÔi tổ quốc ta yêu như máu thịt Như cha mẹ ta như vợ như chồngTiếp đến tác giả đã nhấn mạnh khắc sâu và ý thức và trọng trách của mỗi con người qua điệp cấu trúc câu cầu khiến kết hợp với điệp ngữ “phải biết”. Tác giả đã liệt kê một loạt các động từ mạnh theo chiều tăng tiến gắn bó, san sẻ, hóa thân. “Gắn bó” là chúng ta phải dành cho đất nước một tình yêu tha thiết sâu nặng và chung thủy. Còn “san sẻ” là mỗi người phải biết chia sẻ gánh vác trách nhiệm với sự khó khăn của đất nước. Phần cuối cùng “hóa thân” là mức độ cao nhất, sẵn sàng hy sinh, dâng hiến tuổi xuân để làm nên mùa xuân của đất nước. Đúng như trong lời ca của Trương Quốc Khánh“Là người tôi nguyện chết cho quê hương”Từ đó lời thơ như từng đợt sóng xô vào lòng người đọc, từng đợt từng đợt, để khắc sâu trách nhiệm của mỗi cá nhân với đất nước. Tác giả đã viết bằng giọng điệu trữ tình tha thiết khiến cho lời thơ thấm thía đi vào lòng người đọc không bị khô khan, cứng nhắc. Từ đó nhà thơ nhắc nhở mỗi con người phải biết góp sức mình để làm nên sự trường tồn của đất nước. Đặt trong hoàn cảnh khi bài thơ ra đời, đoạn thơ có tác dụng to lớn trong việc cổ vũ, động viên khơi dậy tinh thần trách nhiệm, đặc biệt là thế hệ trẻ cùng cống hiến cho đất nước. Tới đây, ta chợt nhớ đến tình cảm của Xuân Diệu, một tình yêu tổ quốc đến tột cùng tồn tại nơi "dòng huyết chảy"Tình yêu tổ quốc là đỉnh núi bờ sông Đến lúc tột cùng là dòng huyết chảyNguyễn Khoa Điềm đã có một sự phát hiện và đóng góp mới mẻ vào tư tưởng đất nước của nhân dân tư tưởng đất nước của nhân dân trên bình diện địa lý không gian. Nhà thơ đã gửi ánh nhìn của mình vào tất cả các danh lam thắng cảnh của đất nước, mà mỗi địa danh đều có những câu chuyện riêng, những tâm hồn riêngNhững người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại Chín mươi chín con voi góp mình dựng Đất tổ Hùng Vương Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm Người học trò nghèo giúp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên. Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha Ôi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…Tác giả đã sử dụng nghệ thuật liệt kê một loạt các địa danh núi Vọng Phu, hòn trống mái, đất tổ Hùng Vương, ông đốc, ông Trang, bà đen, ba điểm,. Tất cả những địa danh ấy được sắp xếp từ Bắc xuống Nam, được liệt kê một cách dày đặc. Tất cả đều là những địa danh nổi tiếng, những cảnh đẹp, những kỳ quan thiên nhiên của đất nước. Từ đó tác giả đã vẽ lên một bức tranh khiến cho đoạn thơ như một bản đồ địa lý giúp người đọc hình dung được sự rộng lớn, giàu đẹp của đất nước. Từ đó thể hiện niềm tự hào của tác giả, đặt trong bối cảnh đế quốc Mỹ đang tìm cách xâm lược và chia rẽ nước ta, đoạn thơ còn có ý nghĩa khẳng định về sự toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc. Không chỉ thế tác giả còn sử dụng điệp từ “góp” đến bảy lần, nhằm nhấn mạnh được vai trò tầm quan trọng của người dân bình thường trong việc hình thành nên dáng núi hình song, diện mạo hình hài của đất nước. Có lẽ thông thường các danh lam thắng cảnh là do bàn tay của kiến tạo tự nhiên. Nhưng trong thơ của Nguyễn Khoa Điềm, từ thời ông cha ta đã phủ lên những danh lam thắng cảnh ấy, những câu chuyện huyền thoại. Chính cuộc đời số phận của người dân đã tạo nên danh lam thắng cảnh, và tư tưởng ấy được phát triển một cách đọc viết trong thơ của Nguyễn Khoa ĐiềmNhững người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống MáiNúi Vọng Phu, hòn trống mái không chỉ là những địa danh góp nét đẹp cho dáng núi, hình sông mà chúng tự bao giờ đã hóa thành những câu chuyện trong thơ Nguyễn Khoa Điềm hình ảnh người vợ chờ chồng đến hóa đá tạo thành núi Vọng Phu ở Lạng Sơn, câu chuyện những cặp vợ chồng yêu nhau làm nên hòn trống mái, làm nên đất nước nồng thắm, nhân tình. Đó là truyền thống thủy chung tình nghĩa son sắt vợ thơ Nguyễn Khoa Điềm, đất nước còn hiện lên cùng những truyền thuyết những hình ảnh của người anh hùng Việt NamGót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại Chín mươi chín con voi góp mình dựng Đất tổ Hùng VươngHai câu thơ đã giúp chúng ta liên tưởng đến khí phách của con người Việt Nam gót ngựa Thánh Gióng, chín mươi chín con voi. Hình ảnh thấm đậm tinh thần yêu nước đã được tác giả sử dụng kết hợp với các động từ đi qua, để lại, góp mình tạo nên một nét tự hào rất riêng, rất thiêng liêng, sông núi, về khí phách, và sức mạnh đậm chất Việt Nam và tự hào cả và truyền thống văn hóa. Đó là truyền thuyết Thánh Gióng nhổ tre đánh đuổi giặc Ân, gót ngựa sắt để lại ao đầm. Đây là truyền thống yêu nước chống ngoại xâm từ hàng ngàn đời nay của dân tộc Việt Nam. Bên cạnh đó, câu thơ thứ hai đã gọi lên một huyền thoại xung quanh ngọn núi Hy Cương nơi có các đền thờ vua hùng có chín chín ngọn đồi. Đó là chín mươi chín con voi quây quần chầu mình về đất tổ. Đây là truyền thống uống nước nhớ nguồn, luôn hướng về nguồn cội với một tấm lòng thành kính thiêng đến tác giả đã nhắc về một truyền thống văn hóa của dân tộc Việt NamNhững con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm Người học trò nghèo giúp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên. Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà ĐiểmNguyễn Khoa điềm đã khéo léo nhắc lại thời sự tích của tháp Bút, non Nghiên, nhắc lại người học cho nghèo nên núi Bút, non Nghiên để làm rõ truyền thống hiếu học truyền thống văn hiến lâu đời của dân tộc. Đó là biểu tượng của vẻ đẹp trí tuệ, đạo đức và cả đời sống tâm linh của con người Việt Nam. Con cóc con gà những con vật tưởng chừng như nhỏ bé, bình thường này cũng góp một phần hồn cho vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của đất nước. Và từ bao giờ trên đất nước ta mọc lên vô vàn ngọn núi mang tên bà Đen, bà Điểm, ông Trang, ông Đốc hay mang tên của những người dân khác nữa đó là những con người hóa thân tạo nên đất nước hôm nayVà ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha Ôi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…Đoạn thơ được viết theo kết cấu quy nạp làm nổi bật chất trữ tình trong thơ chính luận của Nguyễn Khoa Điềm. Câu thơ thứ nhất dường như khái quát về mặt không gian đó là tất cả mọi nơi trên đất nước. Dù đi về đâu ta cũng có thể thấy được những cuộc đời đã hóa núi sông, mỗi nơi đều là một địa chỉ văn hóa được tạo nên bởi nhân dân. Qua nghệ thuật liệt kê kết hợp với điệp từ một tác giả đã khẳng định tất cả mọi nơi đều có sự hiện hữu của nhân dân. Tiếp đến thán từ “ôi” đã vang lên thể hiện một tình cảm trào dâng mãnh liệt không thể kìm nén được mà bật lên thành lời. Bởi có lẽ đây là niềm tự hào khi đất nước đã trải qua một thời gian lịch sử dân tộc vô cùng dài bốn ngàn năm“Hỡi sông Hồng khúc hát bốn ngàn năm Tổ Quốc bao giờ đẹp thế này chăng”Có lẽ tác giả đã khẳng định chính cuộc đời, số phận, tính cách, tâm hồn của nhân dân đã làm nên đất nước. Đó là sự hóa thân là sự góp hồn cho những địa danh đưa chúng vào đời sống dân tộc tự bao khi bày tỏ những suy tư về quan điểm đất nước của nhân dân thì nhà thơ tiếp tục nhìn vào chiều dài lịch sử trong bốn năm dựng nước và giữ nước của nhân dân ta đầy niềm tự hào, hạnh phúc. Ở chín câu thơ tiếp theo, nhà thơ nhấn mạnh từ những con người vô danh, không tên, không tuổi nhưng đã tạo dựng nên đất nước bình yên như hôm nayEm ơi em Hãy nhìn rất xa Vào bốn ngàn năm Đất Nước Năm tháng nào cũng người người lớp lớp Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta Cần cù làm lụng Khi có giặc người con trai ra trận Người con gái trở về nuôi cái cùng con Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh Nhiều người đã trở thành anh hùng Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ Những em biết không Có biết bao người con gái, con trai Trong bốn ngàn lớp người giống ta lứa tuổi Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất NướcMở đầu đoạn trích, tác giả đã sử dụng loại gọi đầy tâm tình “em ơi em” như đi vào cảm xúc của tất cả mọi người. Em là nhân vật trữ tình không xác định, có thể hiểu đây là sự phân thân của tác giả thể độc thoại với chính mình. Nhà thơ đang nhìn vào lịch sử bốn năm và tự hào về những cô gái, chàng trai xung phong ra mặt trận mặt thời nào cũng có. Năm tháng nào cũng người người “lớp lớp” ấy là minh chứng cho những cũng hiến trực tiếp của biết bao thế hệ đi trước, những con người bình dị, vô danh, những tuổi thanh xuân kiên cường, anh từ chỉ thời gian không xác định "năm tháng nào" kết hợp với từ "lớp lớp" chỉ số nhiều, các danh từ chung "con gái, con trai" tạo nên những vần thơ bình dị nhưng giàu sức gợi cảm. Nhân dân các thế hệ từ lớp này đến lớp khác đã nối tiếp nhau đứng lên giữ gìn quê hương, xứ sở bằng mồ hôi, công sức và xương máu của mìnhKhi có giặc người con trai ra trận Người con gái trở về nuôi cái cùng con Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánhCâu thơ ấy khiến chúng ta liên tưởng đến hình ảnh của những người phụ nữ kiên cường, dũng cảm thời kháng chiến. Đó là Hai bà Trưng đã vùng lên đập tan chính quyền đô hộ của nhà Đông Hán, hay bà Triệu đã đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn,... đó cũng có thể là chị Võ Thị Sáu - nữ anh hùng lực lượng vũ trang trẻ nhất,… Nhưng khi thời bình, họ lại là những người phụ nữ âm thầm, lặng lẽ làm hậu phương vững chắc cho chiến sĩ ngoài mặt trận. Nói về lịch sử bốn nghìn năm của đất nước, nhà thơ không nhắc lại các triều đại, các anh hùng nổi tiếng mà tập trung nhấn mạnh vai trò của những con người vô danh“Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước.”Họ đã làm ra Đất Nước bằng chính những công việc hằng ngày và trong suốt cuộc đời họ“Nhưng họ đã làm ra Đất Nước Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm Có nội thù thì vùng lên đánh bại”Trước hết, nhân dân là người tạo nên những giá trị văn minh vật chất cho đất nước "Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng". Trong hạt lúa bé nhỏ ấy có mồ hôi công sức lao động của những người nông dân vất vả dãi dầu một nắng hai sương, có sự kết tinh của Đất và Nước, của bão giông, nắng lửa. Không chỉ thế, trong hạt gạo nhỏ bé ấy còn là mồ hôi, nước mắt và cả những sự hi sinh thầm lặng cho lao động. Đất Nước ấy hiện lên là đất nước của lao động sản xuất, của những con người cần cù, chịu khó, của những cánh đồng lúa bao la, rộng lớn "Việt Nam đất nước ta ơi/ Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn/Cánh cò bay lả dập dờn/ Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều". Nhân dân đã giữ và truyền cho ta những nét đẹp trong lao động và văn hóa như thế. Hơn hết họ còn “truyền lửa qua mỗi ngôi nhà”, “ từ hòn than qua con cúi”. Họ chính là những người gìn giữ ngọn lửa nồng đượm hơi ấm của tình làng nghĩa xóm. Câu thơ ấy dường như chứa đầy sự suy ngẫm, sự trải nghiệm về vai trò của nhân dân ẩn sâu trong từng câu chữ. Tất cả đều làm nên một truyền thống quý báu của dân tộc. Đó là truyền thống hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau được hình thành từ ngàn đời dân còn “truyền giọng điệu cho con mình tập nói”. Theo dòng chảy không ngừng của thời gian, ông bà, cha mẹ đã truyền cho con tiếng nói, ngôn ngữ dân tộc. Bởi ngôn ngữ là một tài sản vô giá của một quốc gia. Nó là vật báu, là tiếng nói tâm hồn, là kết quả của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là kết quả của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước Trong một nghìn năm nhân dân ta sống dưới thời Bắc thuộc, Trung Quốc luôn tìm cách đồng hóa dân tộc ta. Nhưng với ý thức và lòng tự hào, tự tôn dân tộc, nhân dân ta vẫn giữ được ngôn ngữ, tiếng nói của dân tộc mình. Có thể nói, tiếng nói là tấm lụa bạch hứng vong hồn của biết bao thế hệ đã qua, là tiếng nói tinh thần, tâm hồn của ông cha ta từ ngàn đời truyền lại cho con cháu. Tiếng Việt của ta rất giàu và đẹp "tiếng tha thiết nói thường nghe như hát/ Kể mọi điều ríu rít bằng âm thanh". Những người mẹ truyền giọng điệu mình cho con tập nói cũng là truyền cho con tình yêu với ngôn ngữ, văn hóa, bản sắc dân tộc. Từng ngôn từ, câu chữTiếng Việt đã tạo nên sự gắn kết của cả một cộng đồng quốc gia, dân tộc "Mỗi sớm dậy nghe bốn bề thân thiết/ Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi/ Như vị muối chung lòng biển mặn/ Như dòng sông thương mến chảy muôn đời”. Không có nhân dân, đất nước ta không thể có kho tàng ngôn ngữ diệu kì đến dân còn là người "gánh tên xã tên làng trong mỗi chuyến di dân". Câu thơ gợi nhắc lại những năm tháng gian lao của cộng đồng người dân Việt trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Họ đã phát bờ, mở cõi, khai hoang, lấn biển để dựng xây phát triển đất nước như ngày hôm chỉ là gìn giữ, xây dựng đất nước, mà những con người tưởng chừng như bình dị ấy lại ngày đêm chống ngoại xâm và diệt nội thù"Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm Có nội thù thì vùng lên đánh bại"Lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh đầy đau thương và anh dũng “Từ Triệu Đinh Lí Trần bao đời gây nền độc lập/ Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”. Chính vì thế, điệp từ “có… thì” đã cho thấy một sự tự nguyện dâng hiến cả tuổi xuân để làm nên mùa xuân của đất nước. Họ hết mình ra trận vì nền độc lập, tự do của dân tộc. Từ “họ” được lặp lại nhiều lần đứng ở những đầu câu thơ đã khẳng định vai trò quan trọng của nhân dân trong lịch sử, và gợi lên những lớp người nối tiếp thay nhau lao động, xây dựng và bảo vệ giữ gìn độc lập dân cả đều khép lại trong mạch cảm xúc trào dâng, tất cả đã minh chứng cho một chân lí mà Nguyễn Khoa Điềm đã khám phá"Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại".Hai câu thơ là định nghĩa về đất nước giản dị mà sâu sắc. Những cảm xúc, suy ngẫm của nhà thơ cứ dồn tự dần để rồi cuối cùng dẫn tới cao trào, làm bật lên tư tưởng cốt lõi "Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân" vì nhân dân là người chiến đấu, xây dựng, bảo vệ đất nước này bằng mồ hôi, xương máu của mình. Không có nhân dân sẽ không có phong tục, tập quán, truyền thống, lối sống nghĩa tình, thủy chung, cao Phân tích Đất nước bài số 1Đất nước là đề tài muôn thuở của thơ văn Việt Nam. Chúng ta đã bắt gặp đất nước chìm trong đau thương, mất mát qua thơ Hoàng Cầm; gặp đất nước đang đổi mới từng ngày qua thơ Nguyễn Đình Thi. Nhưng có lẽ đất nước được nhìn từ nhiều khía cạnh, đầy đủ và trọn vẹn nhất qua bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm. Hình hài đất nước từ khi được sinh ra cho đến khi phải trải qua bao nhiêu sóng gió chiến tranh được tái diễn sinh động qua một hồn thơ tinh tế, phóng khoáng của Nguyễn Khoa giả nhìn đất nước từ nhiều khía cạnh, trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử. Đất nước là tên gọi thiêng liêng, bình dị nhưng chất chứa bao nhiêu ngọn nguồn của cảm xúc chính tác thơ được mở đầu bằng những vần thơ nhẹ nhàng, tinh tế đưa người đọc trở về với những ngày đầu mới khai sinhKhi ta lớn lên đất nước đã có rồiĐất nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa mẹ..." thường hay kểĐất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ănĐất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre đánh nước hiện lên qua những câu thơ thật bình dị, gần gũi, nó không phải là một khái niệm trừu tượng mà là một khái niệm hiện hữu hằng ngày trong cuộc sống của mỗi chúng ta. Tác giả sử dụng từ “khi” để đánh dấu sự ra đời của khái niệm “đất nước”. Từ khi mỗi chúng ta sinh ra thì đất nước đã có rồi. Sau câu thơ ấy, tác giả bắt đầu lí giải nguồn gốc của đất nước mà mỗi người đều mong muốn hiểu thấu được. Giọng thơ dịu nhẹ, ngọt ngào dẫn dụ người đọc về với những “ngày xửa ngày xưa”. Đó như một nốt nhạc của quá khứ trở về trong những suy nghĩ của con người. Từ "ngày xửa, ngày xưa” đánh dấu những điều gì đó xa xưa, rất xưa, không xác định thời gian cụ thể, chỉ biết rằng nó đã có từ lâu đời. Đất nước đồng thời hình thành từ khi dân mình biết đánh giặc, là những con người đó làm nên đất nước…Đất nước còn gắn liền với cuộc sống bình dị, thân quen của người nông dân Việt Nam. Tác giả không chỉ dừng lại ở đó, đất nước còn được lý giải chính là thành quả của công cuộc lao động để xây dựng và phát triểnCái kèo cái cột thành tênHạt gạo phải một nắng hai sương xay giã dần sàngĐất nước có từ ngày đóMột một dụng cụ được tạo ra để phục vụ cho đời sống sản xuất cũng như sinh hoạt của con người như “kèo, cột” đều gắn bó với lịch sử ra đời của đất nước. Rất bình dị, rất chân thực nhưng nó như là một sự giải thích đúng đắn. Hình ảnh Đất Nước trong 9 câu thơ đầu Việt Bắc qua sự cảm nhận của tác giả thật mới mẻ nhưng cũng rất gần gũi, thân Khoa Điềm như dẫn người đọc đi vào những cung bậc tình cảm khác của đất nước, đó là chuyện tình yêu lứa đôi e ấp nhưng tha thiết và mặn nồngĐất là nơi anh đến trườngNước là nơi em tắmĐất nước là nơi ta hò hẹnĐất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầmĐất nước không chỉ hiển hiện trong không gian văn hóa, phong tục tập quán của con người mà còn hiện lên trong những tình yêu lứa đôi mặn nồng, tha thiết nhất. Tác giả đã cắt nghĩa “đất nước” thành hai từ “đất” và “nước” để lí giải cụ thể ý nghĩa của từng từ. Đây có thể coi là sự tinh tế và đầy thi vị của Nguyễn Khoa Điềm. Nhưng dù được tách ra thì đất nước vẫn là một khái niệm trọn vẹn và đầy ý nghĩa nước còn được mở ra theo chiều dài của lịch sử và chiều dài của không gian văn hóa, của những con người vẫn còn trằn trọc tha thiết đi tìm hình bóng quê hương. Đất nước được hình thành từ những câu chuyện xa xưa, từ những điển tích điển cố mà người đời sau vẫn luôn nhắc nhở nhau. Hình ảnh “con chim phượng hoàng”, “núi bà Đen, bà Điểm”, “Lạc Long Quân Âu Cơ” chính là minh chứng cho sự phát triển nhiều thăng trầm nhưng đáng tự hào của chúng ta. Nhớ về cội nguồn, nhớ về những ngày xưa vất vả chính là đạo lí, truyền thống uống nước nhớ nguồn mãnh liệt của nhân dân nước trong ý niệm của Nguyễn Khoa Điềm còn là sự tiếp nối truyền thốngNhững ai đã khuấtNhững ai bây giờYêu nhau và sinh con đẻ cáiGánh vác phần người đi trước để lạiDặn dò con cháu chuyện mai sauTrong sự hình thành và phát triển bề dày văn hóa lịch sử ngày càng được khẳng định. Những con người đã ngã xuống vì đất nước, những con người thế hệ mai sau cần phải cố gắng gìn giữ và phát huy được truyền thống tốt đẹp Khoa Điềm đã có cái nhìn đa chiều về đất nước từ khía cạnh đời thường, khía cạnh lịch sử, khía cạnh không gian và thời gian mang đến cho người đọc nhận thức đúng đắn nhất về đất nước mà chúng ta đang sống và cống hết tác giả còn khẳng địnhTrong anh và em hôm nayĐều có một phần đất nướcCó thể nói đất nước đã đi vào và in hằn vào máu thịt của mỗi người, nhắc nhở trách nhiệm và nghĩa vụ của chúng ta về công cuộc xây dựng và bảo vệ sự vững mạnh của đất nước nước còn được Nguyễn Khoa Điềm tích lũy thành một khái niệm sâu sắcVà ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãiChẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông chaÔi đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấyNhững cuộc đời đã hóa núi sông taMột quan niệm sâu sắc, giàu giá trị nhân sinh quan khiến cho người đọc không thể phủ nhận sự tồn tại của đất nước là một thực tế. Đất nước còn biểu tượng cho lòng thành kính, sự biết ơn đến những người đã ngã xuống vì hòa bình, tự do cho hôm nayHọ đã sống và chếtGiản dị và bình tâmKhông ai nhớ mặt đặt tênNhưng họ đã làm ra đất nướcLại thêm một sự lí giải đúng đắn cho định nghĩa “đất nước”, những con người đó họ dù chết nhưng trái tim họ vẫn còn sống mãi trong cuộc sống của những người ở lại. Nhưng ở hai câu thơ cuối có thể nói Nguyễn Khoa Điềm đã đưa ra định nghĩa đúng đắn và sâu sắc nhất về đất nướcĐất nước này là đất nước của nhân dânĐất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần vậy, nhân dân chính là chủ nhân của đất nước. Bởi vậy đất nước này phải thuộc về nhân dân. Tư tưởng của tác giả rất tiến bộ, rất đời thường và rất sâu vậy, Nguyễn Khoa Điềm bằng những lý lẽ và dẫn chứng đầy thuyết phục đã khẳng định được vị trí, vai trò vô cùng to lớn của đất nước trong cuộc sống của mỗi con người. Gấp trang sách lại nhưng những hình ảnh về đất nước vẫn còn sống mãi trong lòng người bài phân tích bài thơ Đất Nước3. Phân tích Đất nước bài số 2Đất nước luôn là tiếng gọi thiêng liêng muôn thuở, muôn nơi và của bao triệu trái tim con người. Đất nước đi vào đời chúng ta qua những lời ru ngọt ngào êm dịu, qua những làn điệu dân ca mượt mà và những vần thơ sâu lắng, thiết tha và rất đỗi tự hào của bao lớp thi nhân. Ta bắt gặp một hình tượng đất nước đau thương nhưng vẫn ngời lên ý chí đấu tranh trong trang thơ Nguyễn Đình Thi đồng thời cũng rất dịu dàng ý tứ trong thơ Hoàng Cầm. Nhưng với Nguyễn Khoa Điềm, ta bắt gặp một cái nhìn toàn vẹn, tổng hợp từ nhiều bình diện khác nhau về một đất nước của nhân dân. Tư tưởng ấy đã qui tụ mọi cách nhìn và cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm về đất nước. Thông qua những vần thơ kết hợp giữa cảm xúc và suy nghĩ, trữ tình và chính luận, nhà thơ muốn thức tỉnh ý thức, tinh thần dân tộc, tình cảm với nhân dân, đất nước của thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm chống Mĩ cứu đầu đoạn trích là giọng thơ nhẹ nhàng, thủ thỉ như những lời tâm tình kết hợp với hình ảnh thơ bình dị gần gũi đưa ta trở về với cội nguồn đất ta lớn lên Đất nước đã có rồiĐất Nước có trong những cái ngày xửaNgày xưa mẹ thường hay kểĐất Nước bắt đầu từ miếng trầu bây giờ bà ănĐất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh nước trước hết không phải là một khái niệm trừu tượng mà là những gì rất gần gũi, thân thiết ở ngay trong cuộc sống bình dị của mỗi con người. Đất nước hiện hình trong câu chuyện cổ tích ngày xửa ngày xưa mẹ kể, trong miếng trầu của bà, cây tre trước ngõ… gợi lên một Đất nước Việt Nam bao dung hiền hậu, thủy chung và sắt son tình nghĩa anh em, nhưng cũng vô cùng quyết liệt khi chống quân xâm lược. Mỗi quả cau, miếng trầu, cây tre đều gợi về một vẻ đẹp tinh thần Đất nước, đều thấm đẫm ngọn nguồn lịch sử dân nước còn là hiện thân của những phong tục tập quán ngàn đời, minh chứng của một dân tộc giàu truyền thống văn hóa, giàu tình yêu thương gắn bó với mái ấm gia đình. Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn. Gừng tất nhiên là cay, muối tất nhiên là mặn. Tình yêu cha mẹ mãi mãi mặn nồng như chính chân lí tự nhiên kia. Hình ảnh thơ khiến ta rưng rưng nhớ về một lời nhắc nhở thiết tha về tình nghĩa của một ai đó hôm nào Tay bưng đĩa muối chén gừng, Gừng cay muối mặn xin đừng quên nước còn là thành quả của công cuộc lao động vất vả để sinh tồn, để dựng xây nhà cửaCái kèo cái cột thành tênHạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàngĐất Nước có từ ngày đây Đất nước không còn là một khái niệm trừu tượng nữa mà cụ thể, quen thuộc và giản dị biết bao. Việc tác giả sử dụng những chất liệu dân gian để thể hiện suy tưởng của mình về đất nước với quan niệm “Đất nước của nhân dân”.Vẫn bằng lời trò chuyện tâm tình với mỗi nhân vật đối thoại tưởng tượng, Nguyễn Khoa Điềm đã diễn giải khái niệm đất nước theo kiểu riêng của mìnhĐất là nơi anh đến trườngNước là nơi em tắmĐất Nước là nơi ta hò hẹnĐất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ nước không chỉ được cảm nhận bởi không gian địa lí mênh mông từ rừng đến bể mà còn được cảm nhận bởi không gian sinh hoạt bình thường của mỗi người, không gian của tình yêu đôi lứa, không gian của nỗi nhớ thương. Ý niệm về đất nước được gợi ra từ việc chia tách hai yếu tố hợp thành là đất và nước với những liên tưởng gợi ra từ đó. Sử dụng lỗi chiết tự mà vẫn không ngô nghê, mà vẫn thật duyên dáng và ý nhị, có thể gợi ra cho thấy một quan niệm mang những đặc điểm riêng của dân tộc ta về khái niệm đất nước, mà tư duy thơ có thể tách ra, nhấn mở ra cho anh một chân trời kiến thức, nước gột rửa tâm hồn em trong sáng dịu hiền. Cùng với thời gian lớn lên đất nước trở thành nơi anh và em hò hẹn. Không những thế, đất nước còn người bạn chia sẻ những tình cảm nhớ mong của những người đang yêu. Đất và nước tách rời khi anh và em đang là hai cá thể, còn hòa hợp khi anh và em kết lại thành ta. Chiếc khăn – biểu tượng của nỗi nhớ thương – đã từng làm bao trái tim tuổi trẻ bâng khuâng “Khăn thương nhớ ai, Khăn rơi xuống đất…”, một lần nữa lại khiến lòng người xúc động, bồi hồi trước tình cảm chân thành của những tâm hồn yêu thương say Nước còn là nơi trở về của những tâm hồn thiết tha với quê hương. Hình ảnh con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc, con cá ngư ông móng nước biển khơi mang phong cách dân ca miền Trung, thẫm đẫm lòng yêu quê hương cả tác giả. Đất Nước mình bình dị, quen thuộc nhưng đôi khi cũng lớn rộng, tráng lệ và kì vĩ vô cùng, nhất là đối với những người đi xa. Dù chim ham trái chín ăn xa, thì cũng giật mình nhớ gốc cây đa lại về. Gia đình Việt Nam là như thế, lúc nào cũng hướng về quê hương, hướng về cội nước trường tồn trong không gian và thời gian Thời gian đằng đẵng, không gian mênh mông để mãi mãi là nơi dân mình đoàn tụ, là không gian sinh tồn của cộng đồng Việt Nam qua bao thế hệ. Nguyễn Khoa Điềm gợi lại truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ, về truyền thuyết Hùng Vương và ngày giỗ tổ. Nhắc lại Lạc Long Quân và Âu Cơ, nhắc đến ngày giỗ tổ, Nguyễn Khoa Điềm muốn nhắc nhở mọi người nhớ về cội nguồn của dân tộc. Dù bôn ba chốn nào, người dân Việt Nam cũng đều hướng về đất tổ, nhớ đến dòng giống Rồng Tiên của đến chuyện xưa ấy như để khẳng định, cũng là để nhắc nhởNhững ai đã khuấtNhững ai bây giờYêu nhau và sinh con đẻ cáiGánh vác phần người đi trước để lạiDặn dò con cháu chuyện mai sauCảm hứng thơ của tác giả có vẻ phóng túng, tự do nhưng thật ra đây là một hệ thống lập luận khá rõ mà chủ yếu là tác giả thể hiện đất nước trong ba phương diện trong chiều rộng của không gian lãnh thổ địa lí, trong chiều dài thăm thẳm của thời gian lịch sử, trong bề dày của văn hóa – phong tục, lối sống tâm hồn và tính cách dân phương diện ấy được thể hiện gắn bó thống nhất và ở bất cứ phương diện nào thì tư tưởng đất nước của nhân dân vẫn là tư tưởng cốt lõi, nó như một hệ qui chiếu mọi cảm xúc và suy tưởng của nhà cụ thể hơn nữa, gần gũi hơn nữa, Đất nước ở ngay trong máu thịt của mỗi chúng taTrong anh và em hôm nayĐều có một phần đất nướcĐất nước đã thấm tự nhiên vào máu thịt, đã hóa thành máu xương của mỗi con người, vì thế sự sống của mỗi cá nhân không phải là riêng của mỗi con người mà là của cả đất nước. Mỗi con người đều thừa hưởng ít nhiều di sản văn hóa vật chất và tinh thần của đất nước, phải giữ gìn và bảo vệ để làm nên đất nước muôn những quan niệm như vậy về đất nước, phần sau của tác phẩm tác giả tập trung làm nổi bật tư tưởng Đất nước của nhân dân, chính Nhân dân là người đã sáng tạo ra Đất tưởng đó đã dẫn đến một cái nhìn mới mẻ, có chiều sâu về địa lí, về những danh lam thắng cảnh trên khắp mọi miền đất nước. Những núi Vọng Phu, hòn Trống Mái, những núi Bút non Nghiên… không còn là những cảnh thú thiên nhiên nữa mà được cảm nhận thông qua những cảnh ngộ, số phận của nhân dân, được nhìn nhận như là những đóng góp của nhân dân, sự hóa thân của những con người không tên tuổi “Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất nước những núi Vọng Phu, cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái”, “Người học trò thắng cảnh”.Ở đây cảnh vật thiên nhiên qua cách nhìn của Nguyễn Khoa Điềm, hiện lên như một phần tâm hồn, máu thịt của nhân dân. Chính nhân dân đã tạo dựng nên đất nước, đã đặt tên, đã ghi dấu vết cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, dòng sông. Từ những hình ảnh, những cảnh vật, những hiện tượng cụ thể, nhà thơ qui nạp thành một khái quát sâu sắcVà ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãiChẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông chaÔi ! Đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấyNhững cuộc đời đã hóa núi sông tưởng Đất nước của nhân dân đã chi phối cách nhìn của nhà thơ khi nghĩ về lịch sử bốn nghìn năm của đất nước. Nhà thơ không ca ngợi các triều đại, không nói đến những anh hùng được sử sách lưu danh mà chỉ tập trung nói đến những con người vô danh, bình thường, bình dị. Đất nước trước hết là của nhân dân, của những con người vô danh bình dị đã sống và chếtGiản dị và bình tâmKhông ai nhớ mặt đặt tênNhưng họ đã làm ra Đất nướcHọ lao động và chống giặc ngoại xâm, họ đã giữ và truyền lại cho các thế hệ mai sau các giá trị văn hóa, văn minh, tinh thần và vật chất của đất nước từ hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, tên xã, tên làng đến những truyện thần thoại, câu tục ngữ, ca dao. Mạch cảm xúc lắng tụ lại để cuối cùng dẫn tới cao trào, làm nổi bật lên tư tưởng cốt lõi của cả bài thơ vừa bất ngờ, vừa giản dị và độc đáoĐất nước này là Đất nước nhân dânĐất nước của Nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoạiMột định nghĩa giản dị, bất ngờ về đất nước. Đất nước của ca dao thần thoại nhưng vẫn thể hiện những phương diện quan trọng nhất của truyền thống nhân dân, của dân tộc Thật đắm say trong tình yêu, biết quí trọng tình nghĩa và cũng thật quyết liệt trong đấu tranh chống giặc ngoại câu thơ khép lại tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp của cảnh sắc quê hương với một tâm hồn lạc quan phơi phới. Tất cả ào ạt tuôn chảy trong tâm trí người đọc những tí tách reo vui… Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm đã góp thêm thành công cho mảng thơ viết về đất nước. Từ những cảm nhận mang tính gần gũi, quen thuộc, đất nước không còn xa lạ, trừu tượng mà trở nên thân thiết nhưng vẫn rất thiêng liêng. Đọc Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm ta không chỉ tìm về cội nguồn dân tộc mà còn khơi dậy tinh thần dân tộc trong mỗi con người Việt Nam trong mọi thời đại.>>> Phân tích sự vận động trong quan niệm về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm để thấy được những điểm mới trong tư tưởng và hình thức biểu hiện về quan niệm đất Phân tích bài Đất nước bài số 3Cùng với các nhà thơ trong thế hệ chống Mỹ lúc bấy giờ, Nguyễn Khoa Điềm dường như cũng hướng ngòi bút của mình đến một chủ đề lớn lao của thơ ca đương thời đó không gì khác chính là đất nước. Tuy nhiên, có thể nói rằng hình ảnh “đất nước” trong thơ Nguyễn Khoa Điềm không chỉ có đau thương mất mát hay chỉ có những cảnh sơn hào hùng vĩ mà “đất nước” hiển hiện lên trọn vẹn qua những suy nghĩ và cảm nhận hết sức mới mẻ. Qua đoạn trích “Đất nước” trong trường ca “Mặt đường khát vọng” của ông thì đây chính là một định nghĩa đủ đầy về đất nước và qua đó cũng thể hiện sâu sắc tư tưởng cốt lõi của tác phẩm Đất nước là của nhân đầu bài thơ chính là một lời tâm tình sâu lắng đưa ta về với cội nguồnKhi ta lớn lên đất nước đã có rồiĐất nước có trong những cái ngày xửaNgày xưa mẹ thường hay kểĐất nước bắt đầu bằng miếng trầu bây giờ bà ănĐất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre đánh giặcTóc mẹ thì bới sau đầuCha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặnCái kèo cái cột thành tênHạt gạo phải một nắng hai sương xay giã dần sàngĐất nước có từ ngày đó…Trong đoạn thơ này của Nguyễn Khoa Điềm dường như ta có thể thấy rằng, đất nước không phải là cái gì trừu tượng, xa xôi khó nắm bắt mà đất nước chính là những gì thân thuộc và gần gũi nhất. Đất nước có từ trong những câu chuyện ngày xửa ngày xưa, trong miếng trầu của bà ăn, trong dáng tre bất khuất kiên cường, trong những phục tục tập quán, trong hạt gạo nấu những bữa cơm hàng ngày… đều hiện hình lên một đất nước Việt Nam rất đỗi anh hùng, tình nghĩa, giản dị mà thân thương nhất. Và đây có thể nói chính là một định nghĩa, định danh về đất nước hoàn toàn mới và hoàn toàn thiết thực nhất, rõ ràng nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, “đất nước” không chỉ là những khoảng giới hạn về không gian địa lý chật hẹp nữa mà ở đây nó còn có chiều dài thời gian lịch sử và chiều sâu văn hóa. Không những thế, “đất nước” còn chính là tình yêu đôi lứa, có trong tình yêu đôi lứaĐất là nơi anh đến trườngNước là nơi em tắmĐất Nước là nơi ta hò hẹnĐất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm…Đất và nước dường như tách riêng, và từng phần đều lại như đã tượng trưng cho những điều gần gũi nhất. “Là nơi anh đến trường” hay “là nơi em tắm” hàng ngày. Thế nhưng để rồi khi “ta hò hẹn” thành một đôi trọn vẹn thì cũng như đất nước gộp lại vẹn tròn lại thành một. Và có thể nói rằng với phát hiện mới mẻ này, Nguyễn Khoa Điềm đã chỉ ra rằng Đất nước không chỉ bên ta, xung quanh ta và còn có cả ở trong ta nước còn chính là nơi khởi đầu cho những câu chuyện xa xưa, cho những câu ca dao tục ngữ, điển tích điển cố và tất thảy mọi sự sinh thành. Và hình ảnh đặc sắc “con chim phượng hoàng”, “núi Bà Đen, Bà Điểm”, “Lạc Long Quân Âu Cơ” là những minh chứng độc đáo cho đất nước hào hùng nghìn năm văn hiến của chúng ta. Nhớ về đất nước cũng như chính là một cách để ta có thể nhớ về cội nguồn, hiểu được vì sao chúng ta được sinh ra. Chính vì thế, đất nước trong ý niệm của Nguyễn Khoa Điềm còn là sự tiếp nối truyền thốngNhững ai đã khuấtNhững ai bây giờYêu nhau và sinh con đẻ cáiGánh vác phần người đi trước để lạiDặn dò con cháu chuyện mai sau…Trong anh và em hôm nayĐều có một phần đất nướcBiết bao thế hệ anh cha ta đã hi sinh, đã ngã xuống để bảo vệ đất nước, bảo vệ núi sông bờ cõi. Đó còn chính là cả một chiều dài lịch sử hào hùng rất tự hào của dân tộc ta. Chính vì thế, con cháu đời sau phải tiếp tục gìn giữ truyền thống ấy. Với một truyền thống yêu nước, thương nòi, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ non sông cho những thế hệ về sau. Và cho đến thời đại của ngày hôm nay, “trong và em” “đều có một phần đất nước”. Dường như chính phần đất nước ấy là phần máu thịt, là một phần trách nhiệm phải giữ gìn và xây dựng, phần tình yêu để bảo vệ đất nước cho con cháu mai có phải những người đã không quản ngại thân mình hy sinh cho đất nước, làm nên hình hài của đất nước cho nênVà ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãiChẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông chaÔi đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấyNhững cuộc đời đã hóa núi sông taKhi nói về 4000 năm lịch sử oanh liệt hào hùng của đất nước, Nguyễn Khoa Điềm không hề kể về những vương triều to lớn hay những anh hùng nổi tiếng mà lại nhấn mạnh “người làm ra đất nước” lại chính là những con người bình dị đời thường và họ là những người vô danh. Chính họ chứ không phải ai khác, không phải là một ông vua bà chúa nào, họ đã gìn giữ và truyền lại hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, ngôn ngữ cho đời sau. Và từ chính những con người vô danh làm nên đất nước bao năm qua đã giúp tác giả khẳng định một chân lýĐất nước này là đất nước của nhân dânĐất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoạiĐối với câu thơ sau, hai vế dường như song song nhân dân - đất nước lại càng khẳng định đất nước chính là kết tinh những giá trị tinh thần cao quý trong đời sống trí tuệ và tình cảm của nhân dân. Những giá trị ấy cũng như đã kết tinh lại trong những câu ca dao, tục ngữ, trong những câu chuyện thần thoại cổ tích của cha ông ta để lại. Và định nghĩa về đất nước đến đây vừa giản dị nhưng cũng vừa lớn lao, sâu sắc biết bao nước đã dường như đã được khẳng định là của nhân dân và cũng là của anh, của em, vàEm ơi em Đất Nước là máu xương của mìnhPhải biết gắn bó và san sẻPhải biết hóa thân cho dáng hình xứ sởLàm nên Đất Nước muôn đờiĐoạn thơ thân tình như một lời nhắn nhủ thiết tha đằm thắm mà rất đỗi chân thành. Bởi sự sống của chúng ta không chỉ do cha mẹ sinh thành mà còn vì đất nước nuôi dưỡng. Chính vì thế mà trong mỗi chúng ta cần phải có trách nhiệm gìn giữ, phát triển nó và truyền lại cho những thế hệ tiếp nước đã được xem là một đề tài, cảm hứng chủ đạo của thơ ca thời kì kháng chiến chống Mĩ. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm dường như cũng đã nhận thức sâu sắc vai trò và sự đóng góp to lớn của nhân dân trong cuộc đấu tranh trường kì và vô cùng ác liệt này. Chính vì thế có thể nói rằng tư tưởng đất nước của nhân dân từ trong văn học truyền thống đã được nhà thơ phát triển đến đỉnh cao, mang tính dân chủ sâu sắc. Dùng chất liệu văn hóa dân gian được sử dụng nhuần nhuyễn, biến đổi linh hoạt đầy sáng tạo chính là nét đặc sắc thẩm mĩ và thống nhất với "tư tưởng Đất nước của nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại” của bài Kiến thức mở rộng về bài thơ Đất nước* Khái quát về trường ca Mặt đường khát vọng- Hoàn cảnh sáng tác Trường ca được viết năm 1971, khi Nguyễn Khoa Điềm đang tham gia chiến đấu ở chiến trường Bình Trị Thiên, giữa không khí sục sôi chống Mĩ của cả dân Giá trị nội dung Bản trường ca ra đời thức tỉnh tuổi trẻ thành thị ở các vùng tạm chiếm ở miền Nam nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mĩ, hướng về nhân dân, đất nước. Từ đó, kêu gọi, khích lệ mọi người đứng lên, xuống đường đấu tranh hòa nhịp với cuộc chiến đấu của toàn dân tộc.* Khái quát về đoạn trích Đất nước- “Đất nước” thuộc phần đầu của chương V trong trường ca Mặt đường khát Cảm hứng bao trùm đoạn trích là ngợi ca công lao vĩ đại của nhân dân trên hành trình dựng nước và giữ Đoạn trích gồm hai phần+ Phần 1 “Khi ta lớn lên… Đất Nước muôn đời” => Cách cảm nhận và lí giải của nhà thơ về đất nước.+ Phần 2 Từ “Những người vợ nhớ chồng… trăm dáng sông xuôi” => Tập trung thể hiện tư tưởng đất nước là của nhân dân.* Một số nhận định hay về đoạn trích Đất nước- “… Điều may mắn với tôi là được sống trong những tháng năm hào hùng của dân tộc để hiểu nước, hiểu người và hiểu cả mình hơn…”Nguyễn Khoa Điềm- “… Đất nước - Nguyễn Khoa Điềm đã sáng tạo một hình tượng Đất Nước thân quen mà mới lạ trong thi ca Việt Nam… Nguyễn Khoa Điềm đã khắc họa nên một Đất Nước toàn vẹn, là sự thống nhất của lãnh thổ và văn hóa, của lịch sử và sự sống, một Đất Nước trong không gian tinh thần của người Việt Nam".- “… Một Đất Nước như thế không thể có được bằng bút pháp miêu tả bên ngoài, cho nên tất yếu nhà thơ phải dùng hình thức suy ngẫm, liên tưởng, liệt kê, để dần dần đưa người đọc vào trí tưởng tượng của họ, vào kí ức của họ, nhìn Đất Nước trong chính tâm hồn họ...”.Trần Đình Sử, Đọc văn học văn- “… Những sợi nganh dọc dệt nên hình tượng thơ Nguyễn Khoa Điềm đều óng ánh một màu sắc đặc biệt của chất liệu văn hóa dân gian - đó là một lực hút nữa của đoạn thơ Đất Nước… để rồi người đọc lặng đi xúc động trước một cách định nghĩa thật bất ngờ của Nguyễn Khoa Điềm…”.Nguyễn Quang Trung, Phân tích bình giảng tác phẩm văn học 12-/-V. Tổng kết bài hướng dẫn phân tích bài thơ Đất nướcQua những nội dung gợi ý cũng như một số bài văn mẫu tham khảo phân tích bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm mà Đọc Tài Liệu vừa cung cấp ở trên, hi vọng các em sẽ dễ dàng nắm được những ý quan trọng của bài thơ, có vốn từ ngữ rộng hơn vận dụng trình bày trong bài làm của các em làm bài tốt !
1. Dàn ý phân tích đoạn 2 Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi Mở bài giới thiệu tác giả tác phẩm, vị trí đoạn trích Thân bài Có thể khẳng định, đoạn một là tư tưởng nhân văn mới làm cơ sở khẳng định độc lập, chủ quyền dân tộc. Tư tưởng này xuất phát từ tình hình đất nước được Nguyễn Trãi khái quát sâu sắc như một chân lý. Chân lý đó khẳng định nhân loại đang chiến đấu chống quân xâm lược và chỉ khi đó chúng mới vạch trần được luận điệu lừa bịp mà tác giả đưa ra ở đoạn 2. Đoạn 2 của tác phẩm là bản cáo trạng tội ác của Giặc Minh. Tố cáo ách cai trị tàn bạo của nhà Minh Tàn sát người dân vô tội Khai thác, đánh thuế, bóc lột dã man, Phá hủy toàn bộ môi trường ⇒ Tội ác ghê tởm, lũ giặc dã man Có những tội ác của kẻ thù thì cái nhân nghĩa mà tác giả đưa ra mới càng thấy rõ được tính đúng đắn của nó. Bởi lẽ Độc lập chủ quyền của chúng ta là quyền thiêng liêng, có trước, không thể thay đổi Khẳng định chủ quyền của mình như bao dân tộc khác là chúng ta có phong tục riêng, lịch sử riêng, xưa nay chưa bao giờ thiếu. Nền văn hiến của chúng ta có hàng nghìn năm lịch sử đây là yếu tố cơ bản để xác định chủ quyền quốc gia. Bất kỳ kẻ xâm lược nào cũng sẽ tìm cách phủ nhận sự thật hiển nhiên này. Nguyễn Trãi vạch trần thủ đoạn của giặc, vạch trần âm mưu cướp nước của chúng. Chúng lấy chiêu bài “phù Trần diệt Hồ” nhưng thực chất là cướp nước ta – Tội ác mà chúng gây ra đối với chúng ta là hết sức man rợ và dã man. – Trước những đau khổ, gian khổ của nhân dân, tác giả vô cùng đau xót, toàn bài căm phẫn trước tội ác của giặc, đồng cảm, xót xa trước những đau khổ mà nhân dân ta phải chịu đựng. Nghệ thuật so sánh Tội ác của giặc cao như núi Nam Sơn; Sự nhơ nhớp của giặc nhiều như nước Đông Hải. Dùng cái vô cùng để nói cái vô cùng, tội ác của chúng cũng thật khôn lường, không thể chứa nổi. Kết bài đánh giá lại giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật 2. Bài phân tích đoạn 2 Bình ngô đại cáo hay nhất “Bình Ngô Đại Cáo” là tác phẩm nổi tiếng của nhà văn, nhà chính trị Nguyễn Trãi. Tác giả soạn thảo bài cáo này vào mùa xuân năm 1428, để thay mặt Lê Lợi tuyên bố chiến thắng quân Minh xâm lược. Bản cáo trạng không chỉ khẳng định độc lập, chủ quyền của Đại Việt mà còn là bản án đanh thép, lên án tội ác không thể dung thứ của bè lũ bán nước, cướp nước. Cùng phân tích đoạn 2 của Bát Đại Ngô Đồng để thấy rõ hơn nhé! Đoạn một, tác giả tự hào, hãnh diện, tuyên bố với thế giới và thế giới về lịch sử hào hùng dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Ông khẳng định chủ quyền văn hóa, lãnh thổ của Nam Bắc triều, mỗi bên mạnh một phương. Ông tin rằng thiên tài ở khắp mọi nơi, mọi lúc. Tại sao lại xâm lược và cướp bóc lẫn nhau? Nhờ lối dẫn đó, sang đến đoạn hai, tác giả trình bày ngay nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến tranh giữa Đại Việt và nhà Minh “Vừa rồi Nhân họ Hồ chính sự phiền hà Để trong nước lòng dân oán hận Quân cuồng Minh thừa cơ gây loạn Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh” Đi sâu vào tìm hiểu đoạn 2 Có thể thấy rõ, chỉ qua 5 câu thơ ngắn ngủi thôi nhưng tác giả đã miêu tả được toàn cảnh bức tranh xã hội rối ren lúc bấy giờ. Đó là những thủ lĩnh, người đứng đầu đất nước đang bị thôn tính, nhu nhược, tham lam, chia bè phái khiến nhân dân oán hận. Trong khi đó, giặc Minh rình rập lâu ngày bên ngoài, nhân cơ hội gây loạn. Chính sự hỗn loạn kết hợp với các phe phái bán nước và cướp nước đã đặt Đại Việt vào thế cân bằng. Nguyễn Trãi là một nhà chính trị nên những lập luận của ông rất sắc bén và hợp lý. Bài thơ này đã thể hiện rõ âm mưu xâm lược của giặc Minh và bọn gian ác bán nước cầu vinh. Vì thế Đại Việt lâm nguy. Bọn bán nước, cướp nước ra sức hành hạ dân đen, gây bao tội ác. Sau khi đánh chiếm nước ta, quân Minh xâm lược Đại Việt trong hai mươi năm với những chính sách vô cùng hà khắc và tàn bạo. “…Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ Nặng nề những nỗi phu phen Tan tác cả nghề canh cửi”. Chứng kiến cảnh thương tâm của nhân dân, nhà chính trị nhân từ Nguyễn Trãi đã khẳng định tội ác của quân giặc là “Bại nhân nghĩa nát cả đất trời”. Đoạn thơ dường như vừa nói lên nỗi lòng đau đáu vì nước của tác giả, vừa như những lời đay nghiến kẻ thù. Sự tàn bạo của họ không còn do con người tạo ra nữa. Dối trời, dối dân. Chúng không chỉ cướp bóc của cải, sức người mà còn tàn phá môi trường, tận diệt sâu bọ, cây cỏ. Hơn nữa, chúng đã trực tiếp tàn sát những người da đen, những người dân lành vô tội. Người dân quanh năm gắn bó với ruộng đồng, hiền lành, đức độ. Vậy mà họ chà đạp không tha. Bằng một loạt liệt kê, kể liên tiếp những tội ác của quân thù, tác giả như trút được bao cảm xúc căm giận, căm thù. Cảm xúc đó cũng là cảm xúc chung của toàn dân Đại Việt lúc bấy giờ. Chỉ muốn vùng lên chiến đấu, chống lại kẻ thù. Phân tích đoạn 2 Đại cáo, ta càng thấy sự tài tình trong việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật văn chương của Nguyễn Trãi. Ông đã dùng phép nhân hóa suy đoán để vạch trần tội ác tày trời của bọn cướp. Nếu sống giữa thời đó, lớn lên trong ách bạo ngược ấy mới thấy rõ quân giặc không khác gì súc vật, coi mạng người như rác rưởi. Phân tích đoạn 2 của Cựu ước là lúc người đọc cảm thấy rùng mình trước cảnh tang tóc của người dân Đại Việt xưa. Tưởng chừng chỉ là một cảnh trong phim cổ trang, nhưng hóa ra lại là sự thật hiển nhiên, được lịch sử ghi nhận. “Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội, Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi! Lòng người đều căm giận, Trời đất chẳng dung tha” Sự tàn ác man rợ của quân xâm lược không chỉ làm cho người dân thương xót mà còn căm giận cả thiên nhiên, cả biển cả cũng không thể gột rửa được mùi nhơ nhớp, đất trời cũng không chịu nổi. Với việc sử dụng phép đối xứng “ác”, “cây tre Nam Sơn – nước Đông Hải”, “lòng trời đất”… tác giả như càng nhấn mạnh thêm sự sai trái của cuộc chiến tranh phi nghĩa. Anh cũng đem ra những đồ vật vô tri, vô giác để khẳng định việc xen vào cuộc sống của người khác là tội lỗi không thể tha thứ. Ông càng chứng minh rằng, không chỉ con người mà mọi sinh vật sinh ra trên đời đều có quyền sống. Có thể nói, khi phân tích đoạn thứ hai, người đọc như đang xem một bộ phim lịch sử thấm đẫm máu và nước mắt. Có những nỗi đau, mất mát của dân tộc mà không gì có thể bù đắp được. Nhưng người đọc cũng có thể cảm nhận được sự kiên cường, bất khuất của người dân Đại Việt. Bằng ngôn từ mạnh mẽ, hùng hồn, trôi chảy trong từng câu chữ, hình ảnh, nhà chính luận Nguyễn Trãi một lần nữa mạnh mẽ lên án tội ác của quân thù. 3. Bài phân tích đoạn 2 Bình ngô đại cáo ngắn gọn nhất “Văn học không phải là cách đưa người đọc thoát ly hay lãng quên; Ngược lại, văn học là thứ vũ khí cao cả và mạnh mẽ mà chúng ta có, vừa để tố cáo vừa để thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác.” Thạch Lam. Đúng vậy, văn học là cánh tay đắc lực của mỗi giai đoạn lịch sử, để vạch trần bộ mặt giả dối của xã hội, lên án các thế lực bạo tàn, với tư cách đó là bản hùng ca cổ đại “Bình Ngô đại cáo” ở đoạn 2 đã phơi bày tội ác nhơ nhớp của quân xâm lược mà bao năm sau cũng không thể gột rửa hết. Văn chính luận của Nguyễn Trãi đều là những lớp từ, lớp ngữ sắc sảo, trình tự lập luận logic, ngay cả khi luận tội quân xâm lược, mạch lập luận vẫn hết sức sắc bén, rõ ràng. Đầu tiên, nhà thơ chỉ ra những động cơ thâm độc và thói đạo đức giả của kẻ thù “…Vừa rồi Nhân họ Hồ chính sự phiền hà Để trong nước lòng dân oán hận Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa Bọn gian tà bán nước cầu vinh…” Ngay từ những câu thơ mở đầu này, người đọc có thể thấy ngay âm mưu bất thành của kẻ thù, đồng thời vạch trần bộ mặt giả dối, âm mưu thâm độc của kẻ thù. Chúng dùng thủ đoạn xâm lược “phù Trần diệt Hồ” với con bài chính Trần Thiêm Bình nhằm mua chuộc quý tộc nhà Trần về phe chúng đô hộ nước ta. Chính sách của họ đầy dối trá và lừa lọc “Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế Gây binh kết oán trải hai mươi năm” Nhờ ngòi bút sắc sảo, nhạy bén của Nguyễn Trãi ta mới nhận ra được bộ mặt bất nhân, vô nhân tính đằng sau những âm mưu thâm độc của chúng, tiếc thay công lí không bao giờ đứng về phía bọn phi nhân, tội ác của chúng trời đất không dung thứ “Bại nhân nghĩa nát cả đất trời Nặng thuế khóa sạch không đầm núi” Nhưng đau đớn hơn, là tội ác mà họ đã gây ra cho dân tộc, cho những người dân đỏ đen đầy ngậm ngùi. Dưới ngòi bút sắc sảo của nhà thơ Nguyễn Trãi, chưa bao giờ hình ảnh con người hiện lên chua xót, cay đắng và đầy căm phẫn đến thế “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ…” Dân đen, con đỏ”, những con người lương thiện, quanh năm làm ăn khó nhọc, một lòng gắn bó với tấc đất, nhà cửa, ruộng vườn để không bị giày xéo dưới gót giày bẩn thỉu của chúng. Hình ảnh nhân hóa cũng như bút pháp miêu tả đầy ấn tượng của Nguyễn Trãi đã một lần nữa vạch trần tội ác man rợ, tàn bạo của quân xâm lược lúc này là đội quân điên cuồng, cuồng tín mơ hồ về lẽ đời con người như rác rưởi, sẵn sàng chà đạp, chà đạp, ăn thịt, uống máu người không tanh. Tội ác của chúng, ngàn năm sau, sử sách còn để lại, trời không dung đất. Không dừng lại ở đó, quân Minh xâm lược còn ra sức cướp đoạt của cải, sản vật quý hiếm của nước Nam để thỏa mãn nhu cầu vật chất, thú vui xa xỉ, xa hoa, đồi trụy của chúng bằng cách ép buộc, bóc lột, đe dọa người Việt phải săn lùng sản vật để cống nộp, cuộc sống bị đày đọa đến cùng cực “…Những người bị bắt xuống biển để tìm ngọc trai, mệt mỏi vì cá mập, Những kẻ bị đưa vào núi đào vàng, khốn khổ vào rừng sâu nước độc Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi đặt cạm…” Thủ pháp liệt kê được sử dụng đặc biệt trong trường hợp này, như để nhấn mạnh, như để tô điểm thêm cho trang sử tội ác đẫm máu, nhơ nhớp của bọn cường hào không bằng cầm thú thời bấy giờ. Ngôn từ miêu tả, như thấy được sự rạo rực, căm giận, bức bách của nhà văn khi nghĩ đến cảnh con người bị giày xéo, bị giày xéo dưới gót giày dã man, tàn bạo của kẻ thù. Bằng ngôn từ mạnh mẽ, hùng hồn thấm nhuần trong từng câu thơ, mạch chảy của bài thơ, một lần nữa Nguyễn Trãi đã vạch trần sâu sắc và bộc lộ bản chất bất nhân, bất nghĩa, tàn ác của quân xâm lược. 4. Bài phân tích đoạn 2 Bình Ngô đại cáo điểm cao nhất Nguyễn Trãi, vị anh hùng dân tộc lừng lẫy của Việt Nam với nhiều công lao và cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Lòng yêu nước như ngọn lửa luôn cháy bỏng trong ông, lớn lên trong thời nước mất nhà tan đã hun đúc và hình thành ở Nguyễn Trãi một trái tim yêu nước nồng nàn. Không chỉ vậy, Nguyễn Trãi còn nổi tiếng tài năng trên lĩnh vực văn học với những tác phẩm nổi tiếng. Hầu hết các tác phẩm của ông đều nói về lòng yêu nước sâu sắc, lý tưởng cao cả và đặc biệt là vạch trần tội ác của kẻ thù. Điều đó được thể hiện rất rõ trong bài Bình Ngô Đại Cáo, được thể hiện ở đây qua đoạn thứ hai của tác phẩm. Nguyễn Trãi đã tố cáo và lên án tội ác của quân Minh xâm lược. Bình Ngô Đại Cáo được coi là áng áng văn cổ hùng văn nổi tiếng ghi lại tội ác của quân Minh xâm lược. Tác phẩm được viết khi quân dân ta đánh thắng quân Minh, thể hiện lòng yêu nước đi đầu và lòng căm thù giặc thể hiện rõ trong bản cáo trạng “Nhân họ Hồ chính sự phiền hà Để trong nước lòng dân oán hận Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa Bọn gian tà bán nước cầu vinh” Khi quân Minh sang xâm lược nước ta, chúng đã bày ra những âm mưu hèn hạ, lợi dụng tình thế nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần để chớp thời cơ xâm lược nước ta. Chính tình thế hỗn loạn đó, quân Minh đã lợi dụng để thực hiện âm mưu đã định từ lâu. Không phải ngày một ngày hai, quân Minh thực hiện chính sách đô hộ nước ta gần hai mươi năm. Mục đích của chúng là xóa bỏ những gì đất nước chúng ta có là văn hóa và lịch sử của đất nước. Ngay cả những đứa trẻ cũng không tha, cho thấy quân Minh vô cùng tàn ác và hung bạo. Nhưng quân dân ta không bao giờ đầu hàng, tháng ngày dài đằng đẵng, mệt mỏi, ngã xuống nhưng vẫn đứng lên đánh giặc. Quân Minh muốn đô hộ nước ta, muốn thay đổi chính sách, muốn trả thù nước ta. Càng về sau, sự tàn ác của quân Minh càng thể hiện rõ ở chỗ chúng bắt đầu bóc lột sức người, thậm chí đánh đập, tàn phá thiên nhiên. “Nướng dân đen trên ngọn lửa hùng tàn Vùi con đỏ dưới hầm tai vạ” Những người dân thấp hèn, vô tội luôn bị kẻ thù áp bức, bóc lột nặng nề. Họ càng nhỏ bé, càng không có chỗ đứng trong xã hội, càng bị quân Minh tấn công và đàn áp. Tội ác của giặc dù trời đất cũng không thể dung thứ. Hai câu thơ này khẳng định mạnh mẽ một lần nữa tội ác của quân Minh và đây cũng là bản cáo trạng tội ác của quân xâm lược. Trúc Nam Sơn, Đông Hải được Nguyễn Trãi nhắc đến trong đoạn trích nhằm nhấn mạnh tội ác của quân Minh “Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi” Quân xâm lược chỉ thấy cái trước mắt mà không nghĩ đến hậu quả về sau. “Trúc Nam Sơn” và “nước Đông Hải” được Nguyễn Trãi nhắc đến để khẳng định không thể kể hết tội ác của đại quân Minh. Họ không bao giờ biết yêu và có một tình yêu trọn vẹn, thậm chí có thể hủy hoại con người họ, thiên nhiên xung quanh. Họ tham lam, ích kỷ để rồi có những gia đình không còn đầy đủ các thành viên. Chúng làm bao người dân khốn khổ, đất nước phải sống trong cảnh loạn lạc ngày này qua ngày khác không một phút bình yên. Nguyễn Trãi đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật liệt kê nhiều hình ảnh, ví dụ sinh động để người đọc thấy được tội ác ghê tởm của quân Minh đối với nước ta. Hai câu kết luận của đoạn văn là một sự răn đe mạnh mẽ “Lẽ nào trời đất dung tha Ai bảo thần nhân chịu được?” Tội ác của quân Minh đối với nước ta thật không kể xiết, chúng đã khiến chúng ta lâm vào cảnh nước mất nhà tan, muôn đời không thể dung thứ. Với giọng văn đanh thép, Nguyễn Trãi đã cho người đọc thấy được sự căm phẫn không chỉ của tác giả mà của cả nhân dân ta lúc bấy giờ đối với quân Minh. Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi có ý nghĩa sâu sắc về tinh thần yêu nước của dân tộc. Dù trong hoàn cảnh khó khăn, ác liệt nhất, nhân dân ta cũng không bao giờ gục ngã, đã đoàn kết đánh thắng kẻ thù, làm rạng danh Tổ quốc.
Phân tích bài thơ đất nước của nguyễn khoa điềm đoạn 2 đầy đủ nhất Bài thơ “Đất Nước” là mỗi những tác phẩm tiêu biểu cho nét đẹp thơ độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm những năm tháng kháng chiến chống Mỹ. Cùng tìm hiểu và phân tích bài thơ đất nước của nguyễn khoa điềm đoạn 2 đầy đủ nhất để có một cái nhìn toàn diện nhất về hình ảnh của “Đất Nước của nhân dân” nhé! Phân tích bài thơ đất nước của Nguyễn Khoa Điềm Mở bài Giới thiệu tác giả, tác phẩm, vị trí đoạn trích trong phân tích bài thơ đất nước của nguyễn khoa điềm đoạn 2 Nguyễn Khoa Điềm là một trong những cây bút trẻ tài hoa thời kháng chiến chống Mỹ. Lời thơ của ông giàu hình ảnh cảm xúc, gợi nhiều liên tưởng phong phú và thú vị. Bài thơ “Đất nước” được trích từ trường ca “Mặt đường khát vọng”. Tác phẩm với văn phong đặc biệt điển hình cho nét đẹp thơ độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm những năm tháng ấy. Đây là một bài thơ thể hiện sâu sắc tư tưởng “Đất nước của nhân dân”, như một bản kêu hùng ca kêu gọi thanh niên miền Nam đứng lên đấu tranh bảo vệ đất nước. Khổ thơ thứ hai bắt đầu từ “Đất là nơi anh đến trường”… đến “Làm nên đất nước muôn đời” Xem thêm Top 5 mở bài Đất nước hay nhất Bài thơ Đất nước nội dung bài thơ, hoàn cảnh sáng tác, dàn ý phân tích Thân bài phân tích bài thơ đất nước của Nguyễn Khoa Điềm đoạn 2 Định nghĩa Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm tách hai yếu tố “đất” và “nước” để có những cảm nhận và góc nhìn độc đáo Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm Đất Nước là nơi ta hò hẹn Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm Hình ảnh liên tưởng độc đáo, gợi tả thú vị. Định nghĩa đất nước bằng những không gian quen thuộc, gần gũi. Đất là nơi anh lớn lên, nơi có những con đường anh hàng ngày đến trường. Còn nước lại là kỉ niệm gắn bó nơi tuổi thơ em, những kỉ niệm dịu dàng như những dòng sông em thường tắm mát. Tất cả những rung cảm, những kỉ niệm bình dị ấy hợp lại thành linh hồn “đất nước”. Đây là nơi “ta hò hẹn". Khi cả anh và em lớn lên, tình yêu giúp những cá nhân trở thành những mảnh ghép khăng khít chẳng thể tách rời. Như “Đất nước” vậy, chẳng còn tách riêng lẻ, anh và em cũng như “đất” và nước”, hoà hợp với nhau.. Phân tích Đất nước đoạn 2 chi tiết Và tình yêu bắt đầu cũng chính là bắt đầu của tình yêu đất nước. Để rồi “Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” Nỗi nhớ ấy như gắn kết thêm tình yêu, nuôi lớn tình yêu đất nước, gắn kết cả đất nước thành một khối khăng khít, bền chặt. Để rồi dẫu có rời xa, trong tim mỗi anh và em đều có nỗi nhớ tình yêu, có nỗi nhớ đất nước. Hình ảnh ẩn dụ độc đáo “chiếc khăn”. Chiếc khăn thể hiện bao cảm xúc, rung cảm tươi đẹp qua câu ca dao “Khăn thương nhớ ai/ Khăn rơi xuống đất?.... Khăn chùi nước mắt?” Mang chất liệu ca dao vào lời thơ tạo nên sự sống động, giàu hình ảnh liên tưởng cho người đọc “Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc Nước là nơi "con cá ngư ông móng nước biển khơi” Thời gian đằng đẵng Không gian mênh mông, Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ. Chất liệu dân gian, lồng ghép hình ảnh ca dao được Nguyễn Khoa Điềm sử dụng linh hoạt và tài tình. “Đất” và “Nước” giờ đây lại là rừng vàng, là biển bạc, là non nước núi sông mà cha ông ta muôn đời tự hào và gìn giữ. Nguyễn Khoa Điềm đã mang những liên kết đơn lẻ để gắn kết lại thành nhân dân, thành tổ quốc. Nó như một sợi dây gắn kết vô hình nhưng bền bỉ tinh thần đoàn kết của nhân dân ta. Cái tôi cá nhân hòa vào cái "ta" của lịch sử, của dân tộc tạo nên sức mạnh diệu kỳ. Định nghĩa Đất nước theo chiều dài của lịch sử từ quá khứ đến tương lai Từ tình cảm đôi lứa cá nhân, Nguyễn Khoa Điềm mở rộng nó ra và nâng lên một tầng nghĩa mới. Tác giả mở ra rộng không gian theo chiều dài của lịch sử từ ngàn đời xưa. Đất là nơi Chim về Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng Trong Đất và Nước còn chứa đựng là hình ảnh về một huyền thoại xưa. Và truyền thuyết "Lạc Long Quân và Âu Cơ" đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng cũng chính là cội nguồn của dân tộc. Dòng máu “Con rồng cháu tiên” cuồn cuộn chảy trong tim, nên bốn bể đều là nhà, anh em tứ xứ dẫu khác dân tộc những đều là anh em, đều là một thể thống nhất không bao giờ tách rời. Xem thêm So sánh Sóng và Đất nước chi tiết So sánh Tây Tiến và Đất nước Suy nghĩ về trách nhiệm cá nhân đối với đất nước “Những ai đã khuất Những ai bây giờ Yêu nhau và sinh con đẻ cái Gánh vác phần người đi trước để lại Dặn dò con cháu chuyện mai sau Hằng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ” Theo chiều dài lịch sử, để bảo vệ non sông, bao nhiêu thế hệ anh hùng đã hy sinh. Đất Nước trong mỗi người còn là sự biết ơn cho những hy sinh lớn lao của thời đại ấy. Tinh thần như một ngọn đuốc không bao giờ tắt, hừng hực cháy và bền vững với thời gian. Là những thế hệ đi sau, ta phải biết ơn, biết “uống nước nhớ nguồn”, để ngọn đuốc tinh thần ấy sáng mãi. “Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước Khi hai đứa cầm tay Đất Nước trong chúng mình hài hòa nồng thắm Khi chúng ta cầm tay mọi người Đất Nước vẹn tròn, to lớn”. Trong anh và em, trong mỗi chúng ta, đều là một phần của Đất Nước. Đất Nước nuôi dưỡng tâm hồn ta, Đất nước ôm trọn nhân dân theo từng cung đường lịch sử. Hay nói cách khác, Đất nước chính là thống nhất hài hòa giữa vạn vật, giữa điều bé nhỏ và cả lớn lao, giữa mỗi cá nhân với cả một cộng đồng nhân dân rộng lớn. Vì thế chúng ta phải nắm lấy tay nhau, để Đất Nước trở nên vẹn tròn, to lớn. “Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang đất nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó san sẻ. Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời…” Phân tích bài Đất nước đoạn 2 chi tiết nhất Đất nước luôn tồn tại trong tấm lòng mỗi con người. Từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, chúng ta đều được đất nước nuôi dưỡng. Vì vậy mỗi người đều thừa hưởng trong tâm hồn mình những giá trị lớn lao của đất nước. Khi có sự gắn kết giữa mỗi người sẽ khiến đất nước trở nên nồng thắm, hài hòa, lớn lao. Lời văn thủ thỉ, tâm tình đến những thế hệ sau. Các thế hệ con cháu đời sau gánh vác trên vai sứ mệnh “mang đất nước đi xa”, “đến những ngày mơ mộng”. Nhưng dẫu có xa xôi, đất nước vẫn sẽ ở khắc sâu trong tâm khảm mỗi người, để rồi “hóa thành dáng hình xứ xở”, để đất nước mãi bền vững, trường tồn. Giọng thơ chan chứa nghẹn ngào, như một lời nhắn gửi chân thành, tựa như một khúc hát xưa vẫn thường nghe mỗi đêm hè bà ru cháu ngủ. Đây là lời tâm tình mang sứ mệnh chuyển giao thế hệ. Kết bài Phân tích đoạn trích trong phân tích bài thơ đất nước của nguyễn khoa điềm đoạn 2 Phân tích bài thơ đất nước của nguyễn khoa điềm đoạn 2 cho chúng ta những góc nhìn mới mẻ và độc đáo về đất nước. Các góc nhìn đều đa dạng và cho ta những liên tưởng thú vị văn hóa, lịch sử, địa lí… Để từ đó, ta thêm thấm thía trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với sự vững bền của đất nước. Bài thơ sử dụng linh hoạt và tài tình các chất liệu dân gian, gây cảm hứng mạnh mẽ cho đọc giả. Với giọng thơ trữ tình, mang âm hưởng chính trị đằm thắm, Nguyễn Khoa Điểm truyền đến những dạt dào về cảm xúc khi sử dụng hàng loạt yếu tố dân gian, yếu tố thời đại.
phân tích bài đất nước đoạn 2